bệnh án mẫu cơn đau thắt ngực
27 thg 5, 2020 — Các bệnh lý gây đau tức ngực bên phải · Chấn thương ở vùng ngực · Ợ nóng hoặc trào ngược axit dạ dày · Viêm màng phổi · Viêm tụy · Viêm ở tim · Tăng … => Đọc thêm. => Đọc thêm. => Đọc thêm. Giới thiệu: Rohto Nhật Bản. Nước nhỏ mắt Rohto Nhật
Thời gian kéo thường từ 3-5 phút. Đau ngực đỡ khi nghỉ ngơi hoặc sau khi dùng Nitroglycerin. 1. Mối liên hệ giữa thiếu máu cơ tim và đau thắt ngực. Bệnh tim thiếu máu cục bộ mạn tính thường xảy ra khi lòng động mạch vành bị hẹp làm giảm lưu lượng máu đến vùng cơ tim
150/90mmHg, nhập viện vì đau ngực nhiều sau xương ức, xảy ra lúc nghỉ, kéo dài hơn 30phút, cơn đau làm bệnh nhân khó thở phải vào cấp cứu ngay trong đêm. Bệnh nhân này có thể bị các thể nào sau đây của bệnh mạch vành; chọn câu chưa chính xác a. Đau thắt ngực ổn định b.
Biện luận chẩn đoán: – Chẩn đoán đau thắt ngực không ổn định khi có cơn đau thắt ngực kèm theo ít nhất một yếu tố: 1) kéo dài hơn 20 phút, 2) triệu chứng đau thắt ngực nặng và mới xảy ra trong vòng 1 tháng, 3) đau thắt ổn định nhưng ngày càng nặng. Như vậy, bệnh
Cơn đau thắt ngực. Đau thắt ngực là tình trạng đau ngực do động mạch vành bị hẹp vì tắc nghẽn hoặc co thắt gây ra. Lượng máu nuôi tim không đủ. Theo các chuyên gia tim mạch, hơn 1/5 dân số Việt Nam mắc bệnh tim mạch, trong đó đau thắt ngực là một trong bệnh lý tim
modifikasi jupiter mx 135 warna biru jari jari. Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Đỗ Anh Thư, Trung tâm Tim mạch, BVĐK Tâm Anh cho biết, đau thắt ngực là dấu hiệu điển hình cảnh báo bệnh động mạch vành – căn bệnh gây tử vong hàng đầu và đang có xu hướng trẻ hóa. Đau thắt ngực là tình trạng cảnh báo nhiều bệnh lý tim mạch nguy hiểm. Đau thắt ngực là bệnh gì? Đau thắt ngực là thuật ngữ dùng để chỉ cơn đau hoặc khó chịu ở vùng ngực, xảy ra khi khả năng cung cấp máu của động mạch vành không có đủ máu đến nuôi tim, thường do mảng xơ vữa trong thành mạch máu. Những mảng xơ vữa này làm hẹp động mạch và hạn chế cung cấp máu cho tim, đặc biệt khi gắng sức.1 Khi cơn đau thắt ngực xuất hiện, bạn sẽ cảm giác như đang có một áp lực rất lớn đè ép lên vùng ngực, đặc biệt là vùng ngực trái và sau xương ức, thời gian đau kéo dài từ vài phút đến vài giây. Thậm chí, cơn đau có thể lan ra cổ, hàm, vai, cánh tay hoặc vùng lưng. Theo nghiên cứu được công bố trên tạp chí Critical Care Mỹ, nam giới thường xuất hiện các triệu chứng đau thắt ngực nặng hơn ở phụ nữ và mức độ tăng lên khi gắng sức. Đáng lo ngại, nhiều phụ nữ bị bệnh đã mô tả triệu chứng chỉ là khó chịu ở ngực, cổ hoặc lưng – đây là những dấu hiệu rất dễ bị nhầm lẫn và bỏ qua. Đặc biệt, nếu cơn đau thắt ngực kéo dài trên 20 phút thì khả năng người bệnh đã bị nhồi máu cơ tim. Đây là trường hợp cấp cứu, người bệnh cần được đưa đến bệnh viện sớm nhất để xử trí kịp thời.2 Vì sao xuất hiện đau thắt ngực? Có nhiều nguyên nhân gây đau ngực và phần lớn liên quan đến vấn đề tim hoặc phổi. Đau thắt ngực là triệu chứng cảnh báo điển hình bệnh mạch vạch, có 90% cơn đau ngực là do hẹp động mạch vành. Khi quá trình xơ vữa diễn ra kéo dài trong nhiều năm với sự tích tụ từ các mảng bám vào lòng mạch, làm thành mạch dày lên, cứng lại, mất tính đàn hồi và làm giảm lượng máu đến cơ tim. Nguy cơ này tăng lên mạnh mẽ với sự hỗ trợ của các tác nhân Hút thuốc lá Béo phì Tăng huyết áp Đái tháo đường Lúc này, tim buộc phải làm việc trong môi trường thiếu oxy, từ đó gây đau thắt ngực. Sự xuất hiện của mảng xơ vữa cũng làm tăng cao nguy cơ hình thành cục máu đông gây tắc nghẽn mạch máu. Do vậy, nếu không kịp thời khơi thông mạch máu, cơn nhồi máu cơ tim sẽ xảy ra và đe dọa tới tính mạng người bệnh. Đặc biệt, bệnh động mạch vành và nhồi máu cơ tim không phải là “thủ phạm” duy nhất gây đau thắt ngực. Các nguyên nhân gây đau thắt ngực ít phổ biến hơn như Bệnh vi mạch vành; Bóc tách động mạch chủ; Phì đại cơ tim; Viêm màng ngoài tim; Đau cơ sau khi vận động; Viêm khớp sụn sườn; Bệnh Zona, do nhiễm virus herpes; Những triệu chứng đường tiêu hóa như ợ nóng, trào ngược acid dạ dày, loét dạ dày, hội chứng ruột kích thích… Theo Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Đỗ Anh Thư – Trung tâm Tim mạch, BVĐK Tâm Anh “Trước đây, bệnh động mạch vành được coi là bệnh của người cao tuổi, bởi tỷ lệ người cao tuổi mắc bệnh động mạch vành rất nhiều, nhiều người có bệnh mà không biết, chỉ đến khi xảy ra nhồi máu cơ tim mới biết mình đã mắc bệnh. Do vậy, nếu người bệnh không thăm khám sớm, có thể làm chậm trễ chẩn đoán và điều trị nhồi máu cơ tim.” Ai có nguy cơ bị đau thắt ngực? Bất kỳ ai cũng có thể bị đau thắt ngực do nhiều nguyên nhân khác nhau, song cơn đau sẽ dễ xuất hiện thường xuyên hơn ở những đối tượng sau Người cao tuổi; Người mắc bệnh tăng huyết áp; Người bị rối loạn mỡ máu rối loạn lipid máu; Người mắc bệnh đái tháo đường; Người hút thuốc lá, béo phì, lối sống thiếu lành mạnh, khoa học; Người béo phì là đối tượng có nguy cơ cao xuất hiện các cơn đau thắt ngực. Triệu chứng của đau thắt ngực là gì? Đau thắt ngực có thể là cơn đau không rõ ràng, khó phân biệt hoặc có thể trở thành một cơn đau dữ dội như đang có một áp lực rất lớn đè ép lên vùng ngực. Cơn đau có thể lan xuống lưng, cổ, vai trái, thậm chí cả cánh tay. Đôi lúc, một số người còn cảm thấy đầy bụng, khó tiêu. Mặt khác, cơn đau có thể xuất hiện kèm theo các triệu chứng đổ mồ hôi, buồn nôn, ngất xỉu, choáng váng và khó thở. Ngoài ra, triệu chứng của đau thắt ngực còn phụ thuộc vào từng dạng mà người bệnh đang mắc. Việc nhận biết các dạng đau thắt ngực sẽ giúp người bệnh không bỏ qua “thời điểm vàng” để xử trí cơn đau hiệu quả. Có 4 loại đau thắt ngực kèm các triệu chứng như sau Đau thắt ngực ổn định Là loại phổ biến nhất, cơn đau thường xuất hiện ở vùng sau của xương ức, có thể lan xuất cánh tay, lưng và các bộ phận khác. Triệu chứng xảy ra khi người bệnh hoạt động gắng sức như đi bộ hoặc leo cầu thang vì lúc này tim cần nhiều oxy hơn để hoạt động. Điều may mắn, đau thắt ngực ổn định thường có thể dự đoán trước và giảm sau khi nghỉ ngơi hoặc dùng thuốc giãn mạch. Đau thắt ngực không ổn định Cơn đau thường xuất hiện dữ dội, kéo dài hơn và có tần suất ngày càng nhiều với mức độ đau tăng dần, thậm chí trở nên nghiêm trọng trong một thời gian ngắn. Các cơn đau thắt ngực không ổn định vô cùng nguy hiểm vì nó không chỉ gây ra nhồi máu cơ tim cấp mà có thể khiến người bệnh đột tử nếu không được cấp cứu kịp thời. Thậm chí, ở nhiều trường hợp cấp cứu kịp thì khả năng gặp di chứng cũng rất nặng nề. Đau thắt ngực Prinzmetal Là cơn đau hiếm gặp, các cơn co thắt thường xuất hiện một cách đột ngột vào lúc nửa đêm khi bạn đang ngủ, thường sẽ kéo dài đến 30 phút và có xu hướng trở nên nghiêm trọng, tuy nhiên triệu chứng có thể giảm khi người bệnh uống thuốc điều trị. Đau thắt vi mạch máu Cơn đau xuất hiện trong thời gian dài hơn và làm tổn thương tim nghiêm trọng hơn so với các cơn đau thắt ngực khác. Triệu chứng kèm theo như hơi thở ngắn, khó ngủ, mệt mỏi, thiếu năng lượng và khởi phát do căng thẳng, stress tâm lý,… Khi có dấu hiệu đau thắt ngực, nên đưa người bệnh đi khám ngay. Đau ngực có phải là triệu chứng duy nhất quan trọng của nhồi máu cơ tim? Đau thắt ngực là triệu chứng nhận biết nhiều bệnh lý nguy hiểm, mà nổi bật là nhồi máu cơ tim. Tuy nhiên, nhiều người có thể nhồi máu cơ tim nhưng không có biểu hiện đau ngực, thường gặp ở phụ nữ, người có đái tháo đường hoặc người trên 60 tuổi. Bạn cần chú ý rằng những triệu chứng sau đều có thể là nhồi máu cơ tim, bao gồm Đau căng, nặng, thắt, nóng hoặc khó chịu vùng giữa ngực; Đau, khó chịu ở những bộ phận khác như cánh tay, cổ, lưng, hàm hoặc vùng dạ dày; Khó thở; Buồn nôn, nôn, ợ nóng; Vã mồ hôi hoặc lạnh da; Nhịp tim không đều; Chóng mặt hoặc gần ngất… Đau thắt ngực có nguy hiểm không? Đau thắt ngực là dấu hiệu điển hình nhất cảnh báo bệnh tim mạch, đặc biệt là nhồi máu cơ tim. Bệnh tim sẽ trở nguy hiểm khi xảy ra các cơn đau thắt ngực không ổn định. Khi các triệu chứng đau thắt ngực tiến triển trầm trọng, kéo dài trên 15 phút và không suy giảm dù có uống thuốc và nghỉ ngơi, đây là dấu hiệu cảnh báo cơn nhồi máu cơ tim sắp xảy ra. Lúc này, thời gian “vàng” đối với nhồi máu cơ tim là trong vòng 1-2 giờ, kể từ khi xuất hiện các triệu chứng đầu tiên. Bất kỳ sự chậm trễ hay trì hoãn nào cũng có thể khiến tim bị tổn thương và cướp đi tính mạng của người bệnh tức thì. Trường hợp nào cần nhập viện cấp cứu khi có cơn đau ngực? Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Đỗ Anh Thư khuyến cáo, khi các triệu chứng đau thắt ngực xuất hiện, bạn cần dừng lại, ngồi xuống ở tư thế nửa nằm nửa ngồi và nghỉ ngơi. Tiếp đó, hãy dùng các thuốc chống đau thắt ngực như nitrogLycerin nếu trước đó đã được bác sĩ kê đơn. Bạn cần gọi ngay cấp cứu khi xuất hiện các trường hợp dưới đây Nếu cơn đau ngực mới xuất hiện hoặc mức độ nặng. Xảy ra đi kèm với triệu chứng khó thở. Kéo dài hơn vài phút. Đau ngực nặng hơn khi đi bộ, leo cầu thang, hoặc những hoạt động gắng sức khác Cơn đau ngực làm bạn sợ hãi hoặc lo lắng. Cách chẩn đoán cơn đau thắt ngực chính xác Tại Bệnh viện Đa khoa Tâm Anh, các bác sĩ sẽ khám và thực hiện những trắc nghiệm để chẩn đoán nguyên nhân đau thắt ngực của bạn, bao gồm Đo điện tâm đồ. Xét nghiệm máu khi bị nhồi máu cơ tim, tim bạn sẽ phóng thích ra những chỉ điểm sinh học ví dụ Troponin T hoặc I. Nếu những chỉ điểm sinh học này có trong máu, bạn có thể bị nhồi máu cơ tim. Chụp động mạch vành tim bác sĩ sẽ đặt một ống mỏng trong mạch máu ở tay hoặc ở đùi. Sau đó đưa ống này lên tim. Tiếp theo, bác sĩ sẽ bơm thuốc cản quang để xem mạch máu nuôi tim. Phương pháp này giúp phát hiện động mạch nuôi tim của bạn có bị tắc nghẽn hay không. Chụp cắt lớp điện toán đa lát cắt MSCT với thuốc cản quang có thể phát hiện mạch máu nuôi tim bị tắc nghẽn và cục máu đông trong động mạch phổi và một số nguyên nhân khác. Điều trị như thế nào khi bạn bị đau ngực? Tùy theo từng nguyên nhân gây đau thắt ngực mà các bác sĩ sẽ có phương pháp điều trị phù hợp. Mục đích chính của điều trị là ngăn ngừa và giảm đau nhanh chóng các cơn thắt ngực; hạn chế các mảng xơ vữa tích tụ thêm, giúp phòng ngừa và làm chậm tiến triển bệnh; giảm nguy cơ bị nhồi máu cơ tim. Một số phương pháp điều trị dùng để điều trị đau thắt ngực Khi bạn bị đau ngực do nhồi máu cơ tim, bác sĩ sẽ điều trị thuốc giảm đau và thuốc hạn chế tổn thương tim. Nếu thuốc không kiểm soát được cơn đau thắt ngực, bác sĩ sẽ chỉ định cho bạn một số can thiệp phẫu thuật để giữ cho cơ tim của bạn được sống như chụp và đặt stent mạch vành hoặc phẫu thuật bắc cầu. Phẫu thuật sửa chữa nếu bạn bị bóc tách động mạch chủ. Thuốc ức chế tiết acid nếu cơn đau ngực của bạn do trào ngược acid dạ dày vào thực quản. Thuốc chống trầm cảm nếu cơn đau ngực xảy ra do những cơn hoảng loạn. Tập luyện thể thể dục thể thao rất quan trọng đối với người đau thắt ngực. Phương pháp phòng ngừa đau thắt ngực? Cơn đau thắt ngực thường là “cội nguồn” của các bệnh lý về tim. Theo các chuyên gia về tim mạch, thay đổi lối sống không giúp cắt cơn đau thắt ngực ngay lập tức. Nhưng về lâu dài, đây sẽ là bước quan trọng giúp bạn phòng ngừa sự xuất hiện của cơn đau thắt ngực. Dưới đây là những phương pháp lành mạnh bạn nên áp dụng mỗi ngày Thư giãn và nghỉ ngơi, tránh làm việc nặng hoặc gắng sức để tim luôn khỏe mạnh. Tránh căng thẳng, stress kéo dài, giữ tâm lý thoải mái. Xây dựng chế độ dinh dưỡng khoa học, ăn nhiều rau quả, chất xơ, nhiều cá. Hạn chế ăn chất béo, thức ăn mặn, nhiều đồ ngọt, đặc biệt đồ chiên rán,… Bỏ thuốc lá, bỏ rượu bia, cố gắng giảm cân nếu bị thừa cân, béo phì. Điều trị các bệnh gây nguy cơ đau thắt ngực như cao huyết áp, tiểu đường, rối loạn mỡ máu,… Tập thể dục thể thao thường xuyên, ít nhất 30 phút mỗi ngày bằng các môn vừa sức như yoga, đi bộ, đạp xe,… Dùng thuốc theo đúng chỉ định của bác sĩ để kiểm soát huyết áp, cholesterol, đường máu… Xây dựng thói quen khám sức khỏe định kỳ, làm điện tâm đồ, siêu âm tim, đo huyết áp,… 6 tháng một lần. Thạc sĩ, bác sĩ Phạm Đỗ Anh Thư cho rằng, để có trái tim khỏe mạnh, những người có nguy cơ cao mắc các bệnh tim mạch hoặc có triệu chứng đau thắt ngực cần đi thăm khám sớm, để có hướng xử trí kịp thời.
Đau thắt tim là bệnh gì? Đau thắt tim là một cụm từ ít dùng, hầu như do người bệnh mô tả lại. Người bệnh có thể kể với bác sĩ các cảm giác như tim đau thắt lại hay khi có cơn đau thắt tim khó thở tăng lên. Trong chuyên ngành, cụm từ chuyên môn hay dùng và rất phổ biến đó là đau thắt ngực. Đau thắt ngực là triệu chứng quan trọng của bệnh tim thiếu máu cục bộ. Nguyên nhân đau thắt ngực là do Sự tắc nghẽn động mạch vành do mảng xơ vữa các mảng xơ vữa gây hẹp lòng mạch vành đến một mức độ nhất định sẽ gây thiếu máu cơ tim, xuất hiện triệu chứng đau ngực trên lâm sàng. Nếu mảng xơ vữa đột ngột nứt vỡ, quá trình đông máu khởi động, tạo ra các cục huyết khối lấp kín lòng mạch vành, lúc ấy nhồi máu cơ tim sẽ xảy ra. Co thắt khu trú hoặc lan tỏa các động mạch vành Rối loạn chức năng vi mạch vành Cơn đau thắt ngực do mạch vành được mô tả gồm 3 đặc điểm Cảm giác đau như bóp nghẹt, đau như thắt hay đè nặng, sau xương ức, lan lên cằm, lên vai trái và lan xuống cánh tay trái Xuất hiện có tính chất quy luật, tăng lên sau gắng sức, xúc cảm mạnh, gặp lạnh,… kéo dài 3-15 phút Đau ngực đỡ khi nghỉ ngơi hoặc khi dùng nitroglycerin Nếu gồm đủ cả 3 đặc điểm, được gọi là cơn đau thắt ngực điển hình, nếu chỉ có 2/3 tiêu chuẩn gọi là cơn đau không điển hình, nếu chỉ có 1 hoặc không có tiêu chuẩn nào thì cần tìm nguyên nhân khác không phải mạch vành Nam giới Tuổi cao Hút thuốc lá Béo phì Đái tháo đường Rối loạn lipid máu Tăng huyết áp Lối sống tĩnh tại, ít vận động Bỏ thuốc lá Giảm cân nếu thừa cân Tập thể dục thường xuyên ít nhất 30 phút mỗi ngày, 5 ngày mỗi tuần Chế độ ăn lành mạnh nhiều rau xanh, hoa quả, hạn chế mỡ động vật thay bằng dầu thực vật, hạn chế phủ tạng động vật, giảm muối trong thức ăn, không ăn các đồ muối như dưa chua, cà muối… Kiểm soát huyết áp bằng thay đổi chế độ ăn kèm uống thuốc đều đặn Kiểm soát đường máu, lipid máu Điện tâm đồ là phương tiện bắt buộc phải thực hiện đầu tiên để chẩn đoán bệnh lí mạch vành. Trên điện tim có thể thấy các biến đổi ST chênh xuống đi ngang, sóng T âm, sóng Q hoại tử của nhồi máu cơ tim cũ. Ngoài ra nếu những biến đổi điện tim đó xuất hiện trong cơn đau thì càng khẳng định bệnh tim thiếu máu. Điện tâm đồ gắng sức bằng thảm chạy, xe đạp.. ghi điện tâm đồ liên tục khi bệnh nhân hoạt động, tìm kiếm sự biến đổi điện tim trong khi gắng sức được thực hiện khi nghi ngờ bệnh nhân bị bệnh lí mạch vành mà điện tim lúc nghỉ bình thường, không có dấu hiệu gợi ý Siêu âm tim và siêu âm tim gắng sức trên siêu âm doppler tim có thể thấy các rối loạn vận động vùng, giảm hoặc mất vận động vùng cơ tim theo vùng cấp máu của động mạch vành. Nếu siêu âm tim bình thường có thể tiến hành siêu âm tim gắng sức, bệnh nhân sẽ được truyền thuốc tăng co bóp cơ tim Dobutamin. Nếu có rối loạn vận động vùng khi làm siêu âm gắng sức thì cũng có giá trị chẩn đoán bệnh tim thiếu máu. Cắt lớp vi tính đa dãy đánh giá được hình ảnh động mạch vành, mức độ hẹp, vị trí hẹp. Tuy nhiên có thể không chính xác trong những trường hợp mạch vành vôi hóa nhiều Chụp động mạch vành qua da là biện pháp xâm lấn, kĩ thuật cao. Ống thông sẽ được đưa qua đường mạch máu đến chụp các động mạch vành. Có thể xác định được mức độ hẹp, dự trữ mạch vành qua siêu âm lòng mạch IVUS và đo FFR. Các xét nghiệm men tim Troponin T hoặc Troponin I, CK, CK-MB để loại trừ hội chứng vành cấp, xét nghiệm Cholesterol, Triglycerid, LDL-C, HDL-C, glucose, HbA1C, chức năng gan, thận,.. để chẩn đoán các bệnh và các yếu tố nguy cơ kèm theo Điều trị đau thắt ngực đồng nghĩa với điều trị bệnh tim thiếu máu cục bộ, gồm có điều trị nội khoa và tái thông mạch vành bằng can thiệp, phẫu thuật. Điều trị nội khoa Kháng kết tập tiểu cầu Aspirin liều thấp là thuốc được khuyến cáo đầu tiên. Clopidogrel có thể thay thế nếu không dung nạp với aspirin Liệu pháp statin các statin giúp ổn định mảng xơ vữa, có vai trò hết sức quan trọng. Có thể dùng rosuvastatin, atorvastatin.. Chẹn beta giao cảm metoprolol, bisoprolol… là nhóm thuốc quan trọng trong điều trị, được dùng để tăng khả năng gắng sức, giảm tần số tim, cải thiện triệu chứng đau ngực Thuốc nhóm nitrat nitroglycerin có tác dụng giãn mạch vành tác dụng nhanh, ngắn, có thể dùng để giảm ngay cơn đau khi nó xuất hiện. Các chế phẩm có đường uống, ngậm, xịt dưới lưỡi hoặc truyền tĩnh mạch. Các thuốc giãn mạch tác dụng kéo dài như Nicorandil, ranolazin cũng được sử dụng Nhóm ức chế men chuyển/ ức chế thụ thể AT1 được ưu tiên sử dụng khi có suy tim, tăng huyết áp, đái tháo đường kèm theo Chỉ định tái thông mạch vành ở bệnh nhân mạch vành ổn định, khi điều trị nội khoa tối ưu mà không cải thiện triệu chứng có thể tái thông mạch vành qua da hoặc phẫu thuật bắc cầu nối chủ vành tùy từng trường hợp cụ thể. Cũng có thể tái thông mạch vành ở những bệnh nhân có bệnh lí 2-3 mạch vành, hẹp thân chung động mạch vành trái >50%, có suy tim kèm theo…để cải thiện tiên lượng. Xem thêm Bạn đã hiểu đúng về cơn đau thắt ngực? Nhận diện sự khác nhau của những cơn đau thắt ngực từng loại bệnh Đau thắt ngực - dấu hiệu điển hình cảnh báo bệnh mạch vành
Ngày đăng 19/01/2019, 0947 BỆNH ÁN NỘI KHOAI. Hành chínhHọ tên Nguyễn Thị Kim xxxGiới tính Nữ Tuổi 68Nghề nghiệp Công nhân kĩ thuật điện về chỉ Số nhà xxx Giấy, Hà liên hệ Con trai Chu Anh xxx. Sđt 0982 088 xxxNgày vào viện 08h00 ngày 08112016Ngày làm bệnh án 10112016II. Hỏi bệnh1. Lý do vào viện Đau ngực Bệnh sử Cách vào viện 10 ngày, bệnh nhân đột ngột xuất hiện đau ngực trái, đau không liên quan đến gắng sức, đau thành cơn, mỗi cơn khoảng 35 phút, đau thắt như bị bóp nghẹt, không lan. Trong cơn đau có kèm khó thở nhẹ. Không nôn, không buồn nôn, không ợ hơi ợ chua. Bệnh nhân tự uống thuốc đau thắt ngực Trimetazidine 20mg khi có cơn đau, có giảm đau nhưng các cơn đau xuất hiện ngày một nhiều hơn 45 cơnngày, bệnh nhân đi khám và nhập viện. Hiện tại bệnh nhân không đau ngực, không khó Tiền Bản thân Bệnh động mạch vành và tăng huyết áp phát hiện cách đây 13 năm, điều trị thường xuyên bằng thuốc trị đau thắt ngực Trimetazidine 20mg 2viênngày, thuốc hạ áp Perindopril 5mg 1viênngày, huyết áp thường trong khoảng 13015080 mmHg, huyết áp cao nhất là 19090 mmHg. Rối loạn lipid máu phát hiện cách đây 8 tháng, điều trị không thường xuyên. Không có đái tháo đường. Basedow phát hiện cách đây 10 năm, đã phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, uống thuốc thường xuyên Levothyroxin 75µg 1viênngày. Suy tĩnh mạch mạn tính phát hiện cách đây 12 năm điều trị thường xuyên bằng thuốc không rõ tên thuốc kết hợp dùng tất bó 2 chân. Ngoài ra bệnh nhân phát hiện loãng xương cách đây 14 năm dùng thuốc thường xuyên Glucosamin 500mg, hội chứng trào ngược dạ dày – thực quản phát hiện cách đây 2 năm điều trị thường xuyên Esomeprazole. Mổ cắt ruột thừa cách đây 40 năm. Mổ viêm xương chũm cách đây 1 Gia đình chưa phát hiện gì bất Khám1. Toàn thân Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt. Thể trạng cao 160 cm Cân nặng 78kg BMI kgm2 Da, niêm mạc mắt, lợi nhợt. Môi tím tái. Lông, tóc, móng bình thường. Không phù. Sẹo mổ cắt tuyến giáp dài 10cm trùng nếp lằn cổ. Hạch ngoại vi không sờ thấy. Dấu hiệu sinh tồnMạch 78 lầnphút Nhiệt độ áp 14080 mmHg Nhịp thở 19 lầnphút2. Cơ Tim mạch Lồng ngực cân đối, không sẹo mổ cũ, không u cục bất thường. Mỏm tim ở khoang liên sườn V cách đường giữa đòn trái 1cm về bên trái. Nhịp tim đều, f = 78 chu kìphút. T1, T2 rõ. Tiếng thổi tâm thu 36 nghe rõ ở ổ EckBotkin lan xuống vùng mỏm tim. Mạch ngoại vi bắt rõ, đều 2 Hô hấp Lồng ngực di dộng theo nhịp thở, không co kéo cơ hô hấp phụ. Phổi thông khí tốt. Rì rào phế nang rõ đều 2 bên. Không Tiêu hóa Bụng mềm, không chướng, không tuần hoàn bàng hệ, sẹo mổ cắt ruột thừa dài 5cm đường MacBurney. Không có điểm đau khu trú. Phản ứng thành bụng . Gan, lách không sờ Thận – Tiết niệu. Hố thắt lưng không đầy, không sưng nóng đỏ. Vỗ hông lưng . Chạm thận . Bập bềnh thận . Điểm niệu quản trên, giữa 2 bên ấn không Cơ – Xương – Khớp Cột sống đường cong sinh lý bình thường, không gù vẹo, không có điểm đau chói. Các điểm Valleix , Lassegue . Bập bềnh xương bánh chè . Bào gỗ + khớp gối 2 bên. Cơ lực 55 đều 2 bên. Trương lực cơ bình Thần kinh Dấu hiệu thần kinh khu trú tổn thương dây VII ngoại vi bên phải, nhân trung lệch trái. CharlesBell . Không yếu liệt nửa người. Hội chứng màng não . Tăng áp lực nội sọ . Các cơ quan khác chưa phát hiện gì bất Tóm tắt bệnh ánBệnh nhân nữ, 68 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm, rối loạn lipid máu, cường giáp trạng, vào viện vì lý do đau ngực trái. Bệnh diễn biến 10 ngày nay. Qua hỏi bệnh và thăm khám phát hiện các triệu chứng và hội chứng sauBệnh nhân tỉnh, tiếp xúc đau thắt ngực không điển tâm thu 36 ổ huyết áp 14080 chứng thiếu máu + không chứng nhiễm trùng .Bào gỗ + khớp gối 2 Chẩn đoán sơ bộ Theo dõi cơn đau thắt ngực không ổn định Tăng huyết áp, rối loạn lipid Cận lâm sàng đã cóĐiện tâm đồ lúc vào việnNhịp xoang, f = 76 chu không giãn rộngSóng T bình thường, ST không phân tích tế bào máu ngoại viRBC GL Hb gdLWBC TLPLT 211 TLSinh hóa máuCK ULCKMB ULTroponin T ngmlCholesterol mmolLTriglycerid mmolLGlucose mmolLXquang tim phổi Hình bóng tim to, cung động mach chủ âm tim Van động mạch chủ hở nhẹ. Van ba lá hở vừa. Không có rối loạn vận động vùng. Chức năng tâm thu thất trái trong giới hạn bình Đề nghị thêm các xét nghiệm và cận lâm sàngĐiện tâm đồ để đánh giá lại sự thay đổi của điện tim.MSCT mạch vành xem có hay không hẹptắc hệ thống mạch vành.Nếu cần thiết có thể cho chụp mạch vành qua da mức độ hẹp.VIII. Chẩn đoán xác định Đau thắt ngực không ổn định thể không điển hình Tăng huyết Chẩn đoán phân biệtBệnh lý của phổi như viêm phổi trái không có các triệu chứng hô hấp ho, khó thở, không có hình ảnh tổn thương phổi trên tách động mạch chủ tính chất cơn đau không lan, không xuyên ra sau lưng, không thấy hình ảnh tổn thương trên siêu âm màng ngoài tim không có hội chứng nhiễm trùng, tiếng tim rõ, không có tiếng cọ màng ngoài lý dạ dày – thực quản hội chứng trào ngược .X. Hướng điều trịDùng thuốc đau thắt ngực, bảo vệ cơ phòng huyết khối, tắc mạch bằng cách thuốc chống kết tập tiểu cầu, chống soát huyết áp thuốc ức chế men chuyển, chẹn kênh Ca2+Thuốc bảo vệ dạ dày ức chế bơm protonChế độ ăn ăn nhạt, giảm muối. Tránh các thức ăn giàu đạm, giàu lipid đặc biệt là nội tạng. Tăng cường rau, củ, hợp luyện tập thể dục khoa học, tránh các việc lao động nặng, gắng sức. BỆNH ÁN NỘI KHOA I Hành Họ tên Nguyễn Thị Kim xxx Giới tính Nữ Tuổi 68 Nghề nghiệp Công nhân kĩ thuật điện hưu Địa chỉ Số nhà xxx Giấy, Hà Nội Người liên hệ Con trai Chu Anh xxx Sđt 0982 088 xxx Ngày vào viện 08h00 ngày 08/11/2016 Ngày làm bệnh án 10/11/2016 II Hỏi bệnh Lý vào viện Đau ngực trái Bệnh sử Cách vào viện 10 ngày, bệnh nhân đột ngột xuất đau ngực trái, đau không liên quan đến gắng sức, đau thành cơn, khoảng 3-5 phút, đau thắt bị bóp nghẹt, khơng lan Trong đau có kèm khó thở nhẹ Khơng nơn, khơng buồn nôn, không ợ ợ chua Bệnh nhân tự uống thuốc đau thắt ngực Trimetazidine 20mg có đau, có giảm đau đau xuất ngày nhiều 4-5 cơn/ngày, bệnh nhân khám nhập viện Hiện bệnh nhân không đau ngực, khơng khó thở Tiền sử Bản thân - Bệnh động mạch vành tăng huyết áp phát cách 13 năm, điều trị thường xuyên thuốc trị đau thắt ngực Trimetazidine 20mg 2viên/ngày, thuốc hạ áp Perindopril 5mg 1viên/ngày, huyết áp thường khoảng 130150/80 mmHg, huyết áp cao 190/90 mmHg - Rối loạn lipid máu phát cách tháng, điều trị khơng thường xun Khơng có đái tháo đường - Basedow phát cách 10 năm, phẫu thuật cắt bỏ tuyến giáp, uống thuốc thường xuyên Levothyroxin 75µg 1viên/ngày - Suy tĩnh mạch mạn tính phát cách 12 năm điều trị thường xuyên thuốc không rõ tên thuốc kết hợp dùng tất bó chân - Ngồi bệnh nhân phát lỗng xương cách 14 năm dùng thuốc thường xuyên Glucosamin 500mg, hội chứng trào ngược dày – thực quản phát cách năm điều trị thường xuyên Esomeprazole Mổ cắt ruột thừa cách 40 năm Mổ viêm xương chũm cách năm Gia đình chưa phát bất thường III Khám Tồn thân - Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt - Thể trạng Béo Chiều cao 160 cm Cân nặng 78kg BMI kg/m2 - Da, niêm mạc mắt, lợi nhợt Mơi tím tái - Lơng, tóc, móng bình thường - Khơng phù - Sẹo mổ cắt tuyến giáp dài 10cm trùng nếp lằn cổ - Hạch ngoại vi không sờ thấy - Dấu hiệu sinh tồn Mạch 78 lần/phút Nhiệt độ Huyết áp 140/80 mmHg Nhịp thở 19 lần/phút Cơ quan Tim mạch - Lồng ngực cân đối, không sẹo mổ cũ, không u cục bất thường - Mỏm tim khoang liên sườn V cách đường đòn trái 1cm bên trái - Nhịp tim đều, f = 78 chu kì/phút T1, T2 rõ - Tiếng thổi tâm thu 3/6 nghe rõ ổ Eck-Botkin lan xuống vùng mỏm tim - Mạch ngoại vi bắt rõ, bên Hô hấp - Lồng ngực di dộng theo nhịp thở, không co kéo hô hấp phụ - Phổi thơng khí tốt Rì rào phế nang rõ bên - Khơng rales Tiêu hóa - Bụng mềm, khơng chướng, khơng tuần hồn bàng hệ, sẹo mổ cắt ruột thừa dài 5cm đường Mac-Burney - Khơng có điểm đau khu trú Phản ứng thành bụng - - Gan, lách không sờ thấy Thận – Tiết niệu - Hố thắt lưng khơng đầy, khơng sưng nóng đỏ - Vỗ hông lưng - Chạm thận - Bập bềnh thận - - Điểm niệu quản trên, bên ấn không đau Cơ – Xương – Khớp - Cột sống đường cong sinh lý bình thường, khơng gù vẹo, khơng có điểm đau chói - Các điểm Valleix -, Lassegue - - Bập bềnh xương bánh chè - Bào gỗ + khớp gối bên - Cơ lực 5/5 bên - Trương lực bình thường Thần kinh - Dấu hiệu thần kinh khu trú tổn thương dây VII ngoại vi bên phải, nhân trung lệch trái Charles-Bell - - Không yếu liệt nửa người - Hội chứng màng não - - Tăng áp lực nội sọ - Các quan khác chưa phát bất thường IV Tóm tắt bệnh án Bệnh nhân nữ, 68 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm, rối loạn lipid máu, cường giáp trạng, vào viện lý đau ngực trái Bệnh diễn biến 10 ngày Qua hỏi bệnh thăm khám phát triệu chứng hội chứng sau - Bệnh nhân tỉnh, tiếp xúc tốt Cơn đau thắt ngực không điển hình Thổi tâm thu 3/6 ổ Eck-Botkin Tăng huyết áp 140/80 mmHg Hội chứng thiếu máu + không rõ Hội chứng nhiễm trùng - Bào gỗ + khớp gối bên V Chẩn đoán sơ bộ Theo dõi đau thắt ngực không ổn định/ Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu VI Cận lâm sàng có - Điện tâm đồ lúc vào viện Nhịp xoang, f = 76 chu kì/phút PQ QRS khơng giãn rộng Sóng T bình thường, ST khơng chênh - Tổng phân tích tế bào máu ngoại vi RBC G/L Hb g/dL WBC T/L PLT 211 T/L - Sinh hóa máu CK U/L CK-MB U/L Troponin T ng/ml Cholesterol mmol/L Triglycerid mmol/L Glucose mmol/L - X-quang tim phổi Hình bóng tim to, cung động mach chủ vồng - Siêu âm tim Van động mạch chủ hở nhẹ Van ba hở vừa Khơng có rối loạn vận động vùng Chức tâm thu thất trái giới hạn bình thường VII Đề nghị thêm xét nghiệm cận lâm sàng - Điện tâm đồ để đánh giá lại thay đổi điện tim - MSCT mạch vành xem có hay khơng hẹp/tắc hệ thống mạch vành - Nếu cần thiết cho chụp mạch vành qua da mức độ hẹp VIII Chẩn đốn xác định Đau thắt ngực khơng ổn định thể khơng điển hình/ Tăng huyết áp IX Chẩn đốn phân biệt - Bệnh lý phổi viêm phổi trái khơng có triệu chứng hơ hấp ho, khó thở, khơng có hình ảnh tổn thương phổi X-quang - Lóc tách động mạch chủ tính chất đau khơng lan, khơng xun sau lưng, khơng thấy hình ảnh tổn thương siêu âm tim - Viêm màng ngồi tim khơng có hội chứng nhiễm trùng, tiếng tim rõ, khơng có tiếng cọ màng ngồi tim - Bệnh lý dày – thực quản hội chứng trào ngược - X Hướng điều trị - Dùng thuốc đau thắt ngực, bảo vệ tim - Dự phòng huyết khối, tắc mạch cách thuốc chống kết tập tiểu cầu, chống đơng - Kiểm sốt huyết áp thuốc ức chế men chuyển, chẹn kênh Ca2+ - Thuốc bảo vệ dày ức chế bơm proton - Chế độ ăn ăn nhạt, giảm muối Tránh thức ăn giàu đạm, giàu lipid đặc biệt nội tạng Tăng cường rau, củ, - Kết hợp luyện tập thể dục khoa học, tránh việc lao động nặng, gắng sức ... thường IV Tóm tắt bệnh án Bệnh nhân nữ, 68 tuổi, có tiền sử tăng huyết áp nhiều năm, rối loạn lipid máu, cường giáp trạng, vào viện lý đau ngực trái Bệnh diễn biến 10 ngày Qua hỏi bệnh thăm khám... máu + không rõ Hội chứng nhiễm trùng - Bào gỗ + khớp gối bên V Chẩn đoán sơ bộ Theo dõi đau thắt ngực không ổn định/ Tăng huyết áp, rối loạn lipid máu VI Cận lâm sàng có - Điện tâm đồ lúc... để đánh giá lại thay đổi điện tim - MSCT mạch vành xem có hay không hẹp/tắc hệ thống mạch vành - Nếu cần thiết cho chụp mạch vành qua da mức độ hẹp VIII Chẩn đốn xác định Đau thắt ngực - Xem thêm -Xem thêm bệnh án Đau thắt ngực không ổn định,
Bài viết được tư vấn chuyên môn bởi Bác sĩ Khoa Ngoại Tim mạch - Lồng ngực, Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec Central Park. Đau thắt ngực ổn định mặc dù không thể gây nguy hiểm đến tính mạng của người bệnh nhưng nó có thể là dấu hiệu cảnh báo nhồi máu cơ tim. Chính vì vậy, tìm hiểu các kiến thức về đau thắt ngực ổn định cũng như dấu hiệu và hướng điều trị đau thắt ngực ổn định là điều rất quan trọng và cần thiết. Cơn đau thắt ngực ổn định xuất hiện khi cơ tim không được cung cấp đủ lượng máu giàu oxy cần thiết để hoạt động một cách bình thường. Lúc này, tim sẽ phải làm việc nhiều hơn, đập nhanh và mạnh hơn khi người bệnh cố gắng làm một việc gì đó hay trong tình trạng căng thẳng quá mức. Về lâu dài, điều này có thể dẫn đến nguy cơ nhồi máu cơ tim gây nguy hiểm đến tính mạng. 2. Nguyên nhân gây đau thắt ngực ổn định Nguyên nhân khiến người bệnh bị đau thắt ngực ổn định chủ yếu là do các mảng xơ vữa động mạch vành làm cho lòng mạch bị thu hẹp, khiến cho lưu lượng máu tới tế bào cơ tim bị giảm. Sự hình thành các cục máu đông cũng có thể là nguyên nhân làm tắc hẹp mạch máu và khiến người bệnh bị đau thắt ra, một số yếu tố là nguyên nhân gián tiếp khiến người bệnh có nguy cơ mắc bệnh đau thắt ngực ổn định có thể kể đến bao gồmHút thuốc lá Chất nicotin có trong thuốc lá sẽ tạo điều kiện khiến cho cholesterol bị tích tụ lại trên thành mạch, gây ra tình trạng xơ tiểu đường Khi bị bệnh tiểu đường thì nồng độ cholesterol trong máu sẽ tăng, khiến cho tăng tốc độ xơ vữa mạch vành và dẫn đến cơ thể bị nhồi máu cơ áp cao Người bị huyết áp cao sẽ có áp lực của máu lên thành động mạch tăng, làm các động mạch bị tổn thương và gia tăng tốc độ xơ cứng động loạn lipid máu Khi bị rối loạn mỡ máu thì nồng độ chất béo và cholesterol bão hòa cao sẽ làm tăng nguy cơ bị đau thắt ngực và đau sử gia đình mắc bệnh tim nếu một thành viên trong gia đình mắc bệnh động mạch vành hoặc bị đau tim thì bạn cũng có nguy cơ cao gặp phải cơn đau thắt ngực. Tiền sử gia đình mắc bệnh tim nếu một thành viên trong gia đình mắc bệnh động mạch vành hoặc bị đau tim Tuổi tác Đàn ông trên 45 tuổi và phụ nữ trên 55 tuổi là đối tượng dễ có nguy cơ đau thắt ngực ổn phì Người béo phì sẽ có nguy cơ bị đau thắt ngực và bệnh tim mạch tăng so với người bình vận động Ở những người lười vận động, lười tập thể dục, thể thao thì có khả năng cao bị tăng cholesterol, tăng nguy cơ béo phì, tăng huyết áp, làm giảm khả năng lưu thông máu trong lòng thẳng, stress Sự căng thẳng hay tức giận quá mức có thể làm tăng huyết áp và làm tăng nguy cơ xuất hiện cơn đau thắt ngực ổn định. 3. Đau thắt ngực ổn định biểu hiện thế nào? Khi bị đau thắt ngực ổn định, người bệnh sẽ có cảm giác đau đớn lồng ngực như bị bóp chặt, bị đè nén. Cơn đau có thể lan từ ngực ra đến cổ, cánh tay và cơn đau thắt ngực ổn định, người bệnh cũng có thể xuất hiện các dấu hiệu kèm theo như buồn nôn, mệt mỏi, khó thở, chóng mặt, vã mồ hôi lạnh... Cơn đau sẽ chỉ xuất hiện khi người bệnh gắng sức làm một việc gì đó. Các dấu hiệu của đau thắt ngực ổn định thường tạm thời, trong khoảng 15 phút và giảm dần khi được nghỉ ngơi hoặc sử dụng thuốc điều trị đau thắt ngực. 4. Các mức độ của đau thắt ngực ổn định Theo Hiệp hội Tim mạch Canada - CCS, đau thắt ngực ổn định được chia thành 4 mức độ, ở mức độ càng cao thì bệnh càng nguy hiểm và càng ảnh hưởng tới đời sống của người bệnh, cụ thểĐộ 1 Ở mức độ này thì những hoạt động thể lực bình thường sẽ không thể gây đau thắt ngực, nó chỉ xuất hiện khi người bệnh hoạt động thể lực rất 2 Cơn đau thắt ngực xuất hiện khi người bệnh leo cầu thang >1 tầng, hoặc đi bộ dài hơn 2 dãy nhà, cần hạn chế nhẹ hoạt động thể lực bình 3 Đau thắt ngực khi đi bộ dài từ 1 đến 2 dãy nhà hoặc leo cao, cần hạn chế đáng kể các hoạt động thể lực thông 4 Đau thắt ngực ngay cả khi làm việc nhẹ, khi gắng sức nhẹ, các hoạt động thể lực bình thường cũng có thể gây ra các cơn đau. 5. Làm gì khi bị đau thắt ngực ổn định? Xuất hiện các cơn đau thắt ngực ổn định có nghĩa là cơ tim đang bị thiếu máu, chính vì thế, người bệnh cần nhanh chóng thực hiện các bước sauBước 1 Nghỉ ngơi, dừng hết các việc đang làm, nằm nghỉ ở tư thế nửa nằm nửa ngồi, đầu gối nâng cao, nới lỏng quần áo đang mặc và giữ ấm cho cơ 2 Trong trường hợp đã sử dụng các thuốc giãn mạch trước đó thì có thể tiếp tục giảm cơn đau bằng cách sử dụng nó. Sử dụng các thuốc giãn mạch Bước 3 Nếu đã sử dụng thuốc giãn mạch mà cơn đau thắt ngực ổn định không có dấu hiệu thuyên giảm thì sau 20 phút cần phải đi cấp cứu ngay vì có nguy cơ cao nhồi máu cơ tim. 6. Điều trị và phòng ngừa cơn đau thắt ngực ổn định Cơn đau thắt ngực ổn định nếu không được chữa trị kịp thời và đúng phương pháp thì có thể khiến người bệnh gặp phải những biến chứng nguy hiểm như suy tim, nhồi máu cơ tim, đột trị đau thắt ngực ổn địnhThuốc có tác dụng làm giãn động mạch vành, cải thiện lưu lượng máu tới nuôi cơ tim và giúp làm giảm gánh nặng cho tim. Ngoài ra, người bệnh cũng có thể được chỉ định sử dụng các loại thuốc điều trị các bệnh lý nguy cơ như thuốc làm giảm mỡ máu, thuốc hạ huyết áp, thuốc chống đông máu...Phòng ngừa đau thắt ngực ổn địnhSong song với sử dụng thuốc điều trị thì để để phòng đau thắt ngực ổn định, cần phảiĐiều chỉnh lối sống sinh hoạt cho phù hợp, làm việc, nghỉ ngơi hợp không với thuốc lá, hạn chế sử dụng rượu, bia, cà phê và các chất kích dõi và kiểm soát tốt huyết áp, cân nặng, mỡ máu, đường dựng chế độ dinh dưỡng đầy đủ và lành mạnh với nhiều rau xanh và trái cây tươi, hạn chế sử dụng các loại thực phẩm giàu chất béo, giảm luyện thể dục, thể thao mỗi ngày khoảng 30 phút với các môn thể thao nhẹ nhàng, phù hợp với thể lực bản stress, lo lắng, căng thẳng; nghỉ ngơi điều độ, ngủ đủ thấy các dấu hiệu của đau thắt ngực ổn định, người bệnh nên đi khám bác sĩ để tìm ra nguyên nhân của hiện tượng này và có biện pháp can thiệp hợp lý. Bệnh viện Đa khoa Quốc tế Vinmec là lựa chọn đúng đắn để khám và điều trị các bệnh về tim mạch, trong đó có đau thắt đây, đội ngũ y bác sĩ giàu chuyên môn, kinh nghiệm, được đào tạo bài bản sẽ khám, chẩn đoán, tư vấn cho người bệnh bằng những phương pháp tiên tiến, hiện đại; thiết bị công nghệ hiện đại, tiên tiến, đảm bảo cho kết quả chính xác nhất. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. Đau ngực có phải bị bệnh động mạch vành hay không? Một cơn đau tim diễn ra như thế nào? XEM THÊM Đau thắt ngực trái - phải Đừng chủ quan Nhức xương ống tay bên trái và ngực đau nghẹn khó thở triệu chứng bệnh gì? Nam giới đau thắt ngực trái nguyên nhân là gì? Dịch vụ từ Vinmec
3. Thuốc chống kết tập tiểu cầu thuốc chống đông máu Một số loại thuốc chống đông máu như clopidogrel, prasugrel và ticagrelor có tác dụng làm cho các tiểu cầu trong máu ít có khả năng kết dính với nhau, do đó, máu sẽ không đông lại. Những loại thuốc đau thắt ngực này có thể được kê đơn nếu bạn không thể dùng aspirin. 4. Thuốc chẹn beta Thuốc chẹn beta có tác dụng ngăn chặn tác động của hormone epinephrine, còn được gọi là adrenaline. Thuốc khiến tim đập chậm hơn và đòi hỏi cần ít lực co bóp hơn, làm giãn mạch máu, giúp cải thiện lưu lượng máu và làm dịu cơn đau thắt ngực. 5. Thuốc đau thắt ngực Statin Quá nhiều cholesterol xấu LDL cholesterol trong máu có thể khiến động mạch bị thu hẹp, làm tăng nguy cơ đau thắt ngực và đau tim. Statin là loại thuốc được sử dụng để giảm cholesterol trong máu. Statin ngăn chặn một chất mà cơ thể cần để tạo ra cholesterol. Chúng cũng giúp cơ thể tái hấp thu cholesterol đã tích tụ trong thành động mạch, giúp ngăn ngừa tắc nghẽn mạch máu. 6. Thuốc điều trị cơn đau thắt ngực Thuốc chẹn canxi Thuốc chẹn kênh canxi, còn được gọi là thuốc đối kháng canxi, có tác dụng làm thư giãn và mở rộng mạch máu để cải thiện lưu lượng máu cung cấp cho cơ tim. Điều này làm tăng lưu lượng máu trong tim, góp phần làm giảm hoặc ngăn ngừa đau thắt ngực. 7. Thuốc giảm huyết áp Theo thời gian, huyết áp cao làm tổn thương các động mạch bằng cách tăng tốc độ cứng của động mạch. Các loại thuốc đau thắt ngực có tác dụng làm giảm huyết áp bao gồm thuốc ức chế men chuyển ACE hoặc thuốc chẹn thụ thể angiotensin II ARB. Nếu bạn bị cao huyết áp, tiểu đường, có dấu hiệu suy tim hoặc bệnh thận mãn tính, bác sĩ có thể kê một trong những loại thuốc này. 8. Thuốc đau thắt ngực Ranolazine Loại thuốc giảm đau ngực thường được kê đơn cho chứng đau thắt ngực ổn định mãn tính không thuyên giảm khi dùng các loại thuốc khác. Loại thuốc này có thể được kê đơn một mình hoặc với các loại thuốc điều trị đau thắt ngực khác, chẳng hạn như thuốc chẹn canxi, thuốc chẹn beta hoặc nitroglycerin. Những phương pháp điều trị khác ngoài việc dùng thuốc 1. Thay đổi lối sống Ngoài việc dùng thuốc đau thắt ngực theo chỉ định của bác sĩ, bệnh nhân cũng nên thay đổi lối sống lành mạnh để giữ cho trái tim khỏe mạnh. Cụ thể như sau Không hút thuốc và tránh xa khói thuốc. Hút thuốc lá hoặc tiếp xúc lâu dài với khói thuốc có thể làm hỏng lớp niêm mạc của động mạch, tăng tích tụ cholesterol và ngăn chặn dòng chảy của máu. Hãy bỏ thuốc lá và tránh xa khói thuốc ngay từ hôm nay. Thực hiện một chế độ ăn uống lành mạnh cho tim. Ăn ít muối, hạn chế chất béo bão hòa và chất béo chuyển hóa. Bổ sung thêm trái cây, rau củ quả, ngũ cốc nguyên hạt, thịt nạc và các sản phẩm từ sữa ít béo vào chế độ ăn uống hàng ngày. Tăng cường hoạt động thể chất. Một lối sống không vận động góp phần làm tăng cholesterol, huyết áp cao, tiểu đường và béo phì, tăng nguy cơ đau thắt ngực. Hãy cố gắng kết hợp việc dùng thuốc điều trị đau thắt ngực và dành ít nhất 30 phút hoạt động thể chất vừa phải mỗi ngày. Nếu cơn đau thắt ngực của bạn xuất hiện do gắng sức, hãy tự điều chỉnh và nghỉ ngơi. Giảm cân và duy trì cân nặng khỏe mạnh. Béo phì là một yếu tố nguy cơ của bệnh tim, có thể gây đau thắt ngực. Béo phì khiến tim phải làm việc nhiều hơn để cung cấp máu cho cơ thể. Nếu bạn thừa cân, hãy tìm cách đạt được và duy trì cân nặng hợp lý bằng cách ăn uống lành mạnh và tập thể dục thường xuyên. Quản lý các tình trạng sức khỏe khác. Bệnh tiểu đường, huyết áp cao và cholesterol trong máu cao có thể dẫn đến đau thắt ngực. Kiểm soát huyết áp cao, cholesterol cao và bệnh tiểu đường. Giảm căng thẳng. Quá nhiều căng thẳng sẽ làm gia tăng các hormone tiêu cực, có thể làm thu hẹp các động mạch và làm trầm trọng thêm tình trạng đau thắt ngực. Tập thể dục nhiều hơn, thiền, yoga và chia sẻ với những người khác để giảm căng thẳng. Tránh hoặc hạn chế rượu. Nếu bạn chọn uống rượu, hãy uống có chừng mực. Đối với người lớn khỏe mạnh, điều đó có nghĩa là tối đa một ly mỗi ngày đối với phụ nữ và tối đa hai ly mỗi ngày đối với nam giới. 2. Phẫu thuật Nếu thay đổi lối sống và việc dùng thuốc không làm bệnh thuyên giảm, bác sĩ có thể chỉ định phẫu thuật để điều trị bệnh. Có 2 loại phẫu thuật chính dùng để điều trị chứng đau thắt ngực là Nong mạch vành và đặt stent Can thiệp động mạch vành qua da. Một đoạn động mạch bị thu hẹp được mở rộng bằng cách đặt vào đó một ống nhỏ được gọi là stent. Phương pháp điều trị này giúp cải thiện lưu lượng máu đến tim, làm giảm hoặc loại bỏ cơn đau thắt ngực. Phẫu thuật bắc cầu động mạch vành. Trong phẫu thuật bắc cầu động mạch vành, một tĩnh mạch hoặc động mạch lấy từ một nơi khác trong cơ thể được sử dụng để bắc cầu động mạch tim bị tắc hoặc hẹp để làm tăng lưu lượng máu đến tim. Bệnh nhân có thể sẽ cần tiếp tục dùng một số loại thuốc đau thắt ngực sau khi phẫu thuật. Hãy thăm khám định kỳ, hỏi ý kiến bác sĩ và tuân thủ theo chỉ định dùng thuốc để ngăn ngừa những cơn đau thắt ngực và nhiều biến chứng nguy hiểm trong tương lai.
bệnh án mẫu cơn đau thắt ngực