bệnh án ngoại thần kinh thoát vị đĩa đệm
Chẩn đoán thoát vị đĩa đệm trên bệnh nhân là giai đoạn 3 theo Arseni: · Đứt rách hoàn toàn các lớp của vòng sợi, tổ chức nhân nhầy cùng với các tổ
modifikasi jupiter mx 135 warna biru jari jari. Thoát vị đĩa đệm là bệnh xương khớp tương đối phổ biến. Việc phân loại thoát vị đĩa đệm rất quan trọng và giúp bệnh nhân lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Vậy thoát vị đĩa đệm có mấy loại? 1. Thoát vị đĩa đệm là gì? Trước khi tìm hiểu về các cách phân loại thoát vị đĩa đệm, chúng ta cần tìm hiểu sơ lược về bệnh lý xương khớp tương đối phổ biến này. Thoát vị đĩa đệm có tên gọi quốc tế là Herniated Disc là bệnh lý xảy ra khi một hoặc nhiều đĩa đệm nằm giữa các đốt sống bị hư hại, di lệch ra khỏi vị trí ban đầu và chèn ép lên tủy sống/các dây thần kinh trong ống sống, từ đó gây ra hiện tượng đau nhức và rối loạn cảm giác tại các chuyên gia, đĩa đệm là một cấu trúc sụn nằm giữa các đốt sống. Cấu tạo đĩa đệm bao gồm 2 phần là bao sơ mâm sụn nằm bên ngoài được cấu tạo từ các vòng sợi dai và nhân nhầy ở dạng keo nằm bên trong. Bình thường, đĩa đệm có cấu tạo rất chắc chắn với vai trò như một gối đỡ đàn hồi và giúp cột sống dẻo dai, đồng thời thực hiện các động tác dễ dàng hơn bao gồm cúi, ưỡn, xoay và nghiêng. Tuy nhiên, khi các đĩa đệm cột sống bị tổn thương, có thể lệch, trượt đĩa đệm hoặc hư hại hoàn toàn, sẽ khiến vòng xơ nên ngoài bị bào mòn/rách và khiến phần nhân nhầy bên trong thoát ra mặt diễn tiến, các chuyên gia phân loại thoát vị đĩa đệm thành 4 giai đoạn. Trong đó giai đoạn 1 và 2 được xem giai đoạn vàng cho việc điều trị. Tuy nhiên, bệnh nhân đa số sẽ qua 2 giai đoạn này vì các triệu chứng bệnh chưa tiến triển nặng. Vì vậy việc nhận biết các giai đoạn thoát vị đĩa đệm rất quan trọngGiai đoạn 1 Phình đĩa đệm Vòng xơ còn ở trạng thái bình thường nhưng nhân nhầy đã có xu hướng biến dạng. Người bệnh thường khó phát hiện do triệu chứng đau nhức ngắt quãng, đau từng cơn và không rõ ràng nên rất dễ chẩn đoán nhầm với các bệnh lý gây đau cột sống khác;Giai đoạn 2 Lồi đĩa đệm Vòng xơ đã yếu dần, có thể rách nhưng chưa rách hết chiều dày vòng xơ. Thoát vị đĩa đệm giai đoạn này ghi nhận phần nhân ngày vẫn nằm trong bao xơ nhưng tạo thành khối phồng khu trú. Đa số bệnh nhân đã có biểu hiện đau lưng, đặc biệt một số trường hợp gây chèn ép thần kinh nên gây đau nhức dữ dội hơn;Giai đoạn 3 Thoát vị đĩa đệm thực thụ Bao xơ đã rách hoàn toàn, phần nhân nhầy vi đã tràn ra ngoài nhưng vẫn còn chung một khối. Phần nhân nhầy lồi ra chèn ép dây thần kinh, từ đó khiến bệnh nhân đau nhức dữ dội, kèm theo tê bì, chuột rút và hạn chế vận động;Giai đoan 4 Thoát vị đĩa đệm có mảnh rời, Khi khối thoát vị kéo dài sẽ khiến nhân nhầy thoát ra ngoài và tách hoàn toàn khỏi đĩa đệm. Ở giai đoạn này, người bệnh gặp phải tình trạng đau đớn rất nhiều, đôi khi teo cơ và mất kiểm soát chức năng tiểu cạnh đó, dựa vào kết quả chụp cộng hưởng từ MRI, Pfirrmann phân thành các thể thoát vị đĩa đệm như sauĐộ 1 Tín hiệu đồng nhất, màu trắng, chiều cao đĩa đệm bình thường;Độ 2 Tín hiệu không đồng nhất, màu trắng, chiều cao đĩa đệm bình thường;Độ 3 Tín hiệu không đồng nhất, màu xám, chiều cao đĩa đệm đã suy giảm;Độ 4 Tín hiệu không đồng nhất, màu xám đến đen với chiều cao giảm nhiều;Độ 5 Tín hiệu không đồng nhất, màu đen và đĩa đệm mất chiều cao hoàn toàn. Dựa vào vị trí đĩa đệm bị lệch, chuyên gia phân loại thoát vị đĩa đệm thành các thể như sauThoát vị đĩa đệm cột sống cổ;Thoát vị đĩa đệm cột sống cổ-ngực;Thoát vị đĩa đệm cột sống ngực;Thoát vị đĩa đệm lưng-ngực;Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt thể thoát vị đĩa đệm dựa vào mức độ chèn ép thần kinh và tủy sốngThoát vị đĩa đệm thể trung tâm Phần nhân nhầy thoát ra, từ đó gây chèn ép trực tiếp lên tủy sống. Thể thoát vị này không gây cảm giác tê chân tay, nhưng được xem là nguy hiểm nhất vì nếu nhân nhầy chèn ép càng nhiều thì bệnh nhân càng có nguy cơ mất hoàn toàn chức năng vận động và chức năng tiêu tiểu;Thoát vị đĩa đệm cạnh trung tâm Nhân nhầy chèn ép cả tủy sống lẫn rễ thần kinh;Thoát vị đĩa đệm chèn ép rễ thần kinh bên phải hoặc bên theo vị trí, các thể thoát vị đĩa đệm được các chuyên gia phân chia như sauThoát vị đĩa đệm ra sau Khá phổ biến với các triệu chứng thường là đau mỏi, nhức nhối, đau lan và tê bì...;Thoát vị đĩa đệm ra trước Phần thoát vị chèn ép vào thân sống, do đó còn được gọi là thoát vị đĩa đệm nội loại thoát vị đĩa đệm theo mức độ liên quan với dây chằng dọc sauThoát vị đĩa đệm dưới dây chằng dọc sau Cấu trúc dây chằng nguyên vẹn và chưa bị rách;Thoát vị đĩa đệm qua dây chằng dọc sau Cấu trúc dây chằng đã bị rách, khi đó khối thoát vị đi qua chỗ rách để chèn ép lên rễ thần kinh;Thoát vị đĩa đệm di trú Khối thoát vị di chuyển khỏi vị trí tương ứng với đĩa đệm có thể lên trên hoặc xuống dưới 3. Nguyên nhân gây thoát vị đĩa đệm Sau khi nắm được các cách phân loại thoát vị đĩa đệm, các chuyên gia cho biết bệnh lý này có rất nhiều nguyên nhân gây bệnh khác nhau, bao gồmChấn thương cột sống sau tai nạn giao thông;Tai nạn lao động Người bệnh thường xuyên mang vác vật nặng trên cổ, lưng hoằn tư thế khuân vác sai sẽ dẫn đến chệch đĩa đệm. Ngoài ra, những người có thói quen đứng rồi cúi xuống để nhấc vật nặng thay vì ngồi xuống rồi bê vật từ từ đứng lên, điều này làm tăng nguy cơ chấn thương cột sống và ảnh hưởng đến đĩa đệm;Thoái hóa cột sống Khi phần nhân nhầy và vòng xơ tương tự như sụn khớp bị bào mòn, phần xương dưới sụn là các đốt sống sẽ biến đổi cấu trúc theo, dẫn đến xuất hiện các hốc xương và thậm chí mọc gai xương. Do tác động và sức ép của cơ thể, vòng xơ của đĩa đệm sẽ rách và lớp nhân nhầy bên trong thoát ra ngoài, gây chèn ép lên các dây thần kinh và tủy sống;Một số nguyên nhân khác gây thoát vị đĩa đệm, bao gồm yếu tố di truyền, hoặc mắc phải các bệnh lý bẩm sinh ở cột sống. 4. Điều trị thoát vị đĩa đệm như thế nào? Hiện nay có 2 phương pháp điều trị thoát vị đĩa đệm là điều trị bảo tồn và phẫu thuật. Tùy theo phân loại thoát vị đĩa đệm, mức độ ảnh hưởng đến cuộc sống và mong muốn của người bệnh mà bác sĩ sẽ tư vấn phương pháp điều trị phù hợp. Những trường hợp đĩa đệm di lệch mà chưa gây chèn ép rễ thần kinh, người bệnh chỉ cần dùng thuốc và tập vật lý trị liệu. Nếu đã điều trị nội khoa tích cực mà thoát vị đĩa đệm không thuyên giảm hoặc có dấu hiệu tiến triển nặng, người bệnh sẽ được chỉ định phẫu Sử dụng thuốcMột số loại thuốc được bác sĩ chỉ định với mục đích cải thiện triệu chứng thoát vị đĩa đệm bao gồm giảm đau Acetaminophen, thuốc chống viêm không steroid hoặc corticosteroid, thuốc giãn cơ hoặc giảm đau thần kinh...Một vấn đề người bệnh cần đặc biệt lưu ý là loại thuốc điều trị thoát vị đĩa đệm nếu lạm dụng sẽ dẫn đến tác dụng phụ không mong muốn là chóng mặt, buồn nôn, dị ứng, nghiêm trọng hơn là bệnh viêm loét dạ dày, suy giảm chức năng gan thận hoặc loãng xương... Vật lý trị liệuSong song quá trình điều trị bằng thuốc, người bệnh thoát vị đĩa đệm có thể kết hợp các bài tập vật lý trị liệu với mục tiêu cải thiện các cơn đau nhức cũng như hạn chế sự chèn ép vào dây thần kinh do sai tư thế lao động, sinh hoạt dưới sự trợ giúp của các chuyên gia và kỹ thuật viên có kinh nghiệm. Khuyến cáo người bệnh bị thoát vị đĩa đệm không tự lý tập luyện để tránh sai cách và khiến những tổn thương cột sống trở nên trầm trọng Phẫu thuậtHiện nay các phương pháp phẫu thuật thoát vị đĩa đệm bao gồm phẫu thuật hở, phẫu thuật nội soi hoặc tiêu hủy nhân nhầy bằng men Chymopapain... Tuy nhiên, hạn chế của những phương pháp này là tiềm ẩn nhiều nguy cơ xảy ra biến chứng nguy hiểm, như nhiễm trùng, dị ứng với men tiêu nhân nhầy, liệt dây thần kinh, hoặc nguy hiểm nhất có thể dẫn đến tử thể thấy, việc phân loại thoát vị đĩa đệm rất quan trọng và giúp bệnh nhân lựa chọn phương pháp điều trị phù hợp. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Phồng lồi đĩa đệm tầng L4 L5 có nguy hiểm không? Lồi đĩa đệm gây hậu quả gì? Thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng thể lồi có chữa khỏi được không?
Sức khỏeTin tức Thứ tư, 31/3/2021, 1224 GMT+7 Một chứng bệnh thần kinh chưa từng được biết đến, gây co thắt cơ bắp, mất trí nhớ và ảo giác đang dấy lên lo ngại tại Canada. 43 bệnh nhân ở vùng Acadian thuộc tỉnh New Brunswick, Canada, bị nghi mắc bệnh lạ. Trong hơn một năm qua, các quan chức y tế tỉnh New Brunswick đã theo dõi các ca bệnh nhưng không xác định được nguyên nhân. Giới chuyên gia cho biết vẫn còn nhiều bí ẩn xoay quanh vấn đề này và khuyên công chúng không nên hoảng dân lần đầu biết đến cuộc điều tra này vào cuối tháng 3 khi một biên bản ghi nhớ từ cơ quan y tế của tỉnh bị rò rỉ. Trong biên bản, các bác sĩ được yêu cầu theo dõi các triệu chứng giống bệnh Creutzfeldt-Jakob CJD - một bệnh não hiếm gặp, gây tử vong do các protein prion bị đột biến. Prion có thể biến một protein bình thường thành bất thường gọi là protein-prion. Prion gây nhiều bệnh nguy hiểm ở động vật và người như thoái hóa hệ thần kinh trung ương, giảm sút trí tuệ bao gồm bệnh bò điên, bệnh kuru, bệnh mất ngủ...Tất cả các mẫu bệnh phẩm được gửi đến Phòng thí nghiệm vi sinh quốc gia ở Winnipeg và hệ thống giám sát CJD Quốc gia ở Ottawa. Mặc dù có những triệu chứng tương đồng như mất trí nhớ, thị lực có vấn đề và co giật, kết quả sàng lọc xác nhận không có trường hợp nào mắc CJD. "Chưa có bằng chứng cho thấy đây là bệnh liên quan đến biến đổi protein prion", theo Alier Marrero, tiến sĩ thần kinh học và trưởng nhóm điều cho biết ban đầu bệnh nhân gặp những cơn đau không rõ nguyên nhân, co thắt cơ và thay đổi hành vi. Tất cả các triệu chứng có thể dễ nhầm với lo lắng hoặc trầm cảm. Nhưng từ 18 đến 36 tháng sau, người bệnh bắt đầu suy giảm nhận thức, suy giảm cơ bắp, chảy nước dãi và răng va lập cập. Một số bệnh nhân bị ảo giác. Có người cảm giác bị côn trùng bò trên chẩn đoán, Marrero và nhóm của ông tiến hành nghiên cứu sâu về lịch sử bệnh lý, cũng như thực hiện các xét nghiệm bao gồm chụp não đồ, đánh giá khả năng chuyển hóa và độc tố để loại trừ các bệnh khác như sa sút trí tuệ, rối loạn thoái hóa thần kinh, rối loạn tự miễn dịch và các bệnh nhiễm trùng. Phòng thí nghiệm vi sinh quốc gia ở Winnipeg. Ảnh Winnipeg Free Press. Chỉ một người mắc bệnh vào năm 2015, nhưng tăng thành 11 ca năm 2019 và 24 trường hợp vào năm 2020. Các nhà nghiên cứu cho rằng 5 người đã chết vì căn bệnh và cộng sự đã tham khảo ý kiến của các chuyên gia thần kinh học, sức khỏe môi trường, dịch tễ học, động vật học và chất độc học để hiểu rõ hơn nguyên nhân của căn bệnh bí ẩn. Họ đang xác định xem các yêu tố môi trường như nguồn nước, thực vật và côn trùng hay không có liên quan tới bệnh hay Sim, một nhà nghiên cứu về các bệnh thoái hóa thần kinh tại Đại học Alberta, Canada, cho rằng không nên kết luận quá sớm bởi hiện vẫn chưa có đủ bằng chứng để xác nhận đây là căn bệnh mới. Chẩn đoán bệnh đôi khi gặp khó khăn, đặc biệt là khi không rõ nguyên vậy các bác sĩ chuyên khoa thần kinh vẫn có thể sử dụng một số công cụ để chữa bệnh không rõ nguyên nhân. "Khi bệnh nhân phục hồi, bạn vẫn không rõ họ thực sự mắc bệnh gì. Chúng tôi thỉnh thoảng gặp những ca bệnh thần kinh kỳ lạ. Có lúc chúng tôi nhìn ra bệnh, có lúc lại không", Sim cho Dung Theo Guardian
Một trong những nguyên nhân gây đau thần kinh tọa là do thoát vị đĩa đệm, bệnh có thể gặp ở cả người trẻ lẫn người già gây ra cảm giác đau vùng thắt lưng hoặc lan đến một số vị trí khác, gây khó khăn cho việc vận động. Đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm tuy không đe dọa tính mạng người bệnh nhưng cần được phát hiện và điều trị sớm để nâng cao chất lượng sống cho người bệnh. Dây thần kinh tọa là một dây thần kinh lớn và dài nhất trong cơ thể, bao gồm nhiều rễ thần kinh tạo thành như L4, L5, S1, S2 và S3; trong đó L5 và S1 là 2 rễ thần kinh cơ bản nhất dễ gây đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm bị tổn thương dây thần kinh tọa sẽ ảnh hưởng đến cảm giác, dinh dưỡng và vận động của những cấu trúc chi dưới, nhất là vùng cẳng chân. Bệnh nhân đau thần kinh tọa thường sẽ hạn chế cho việc đi đứng, đi bằng gót và mũi chân. Một số động tác như gấp duỗi bàn chân, xoay ngoài hoặc xoay trong bàn chân và co duỗi các ngón chân sẽ bị hạn thần kinh tọa là triệu chứng rất hay gặp gây cho người bệnh cảm giác đau dọc theo đường đi của dây thần kinh tọa, bắt đầu từ vùng cột sống thắt lưng sau đó lan đến mặt ngoài của đùi, mặt trước ngoài vùng cẳng chân, rồi đến vị trí mắt cá ngoài và tận những ngón chân trên bàn chân cùng bên. Bệnh nhân đau dây thần kinh tọa sẽ gặp nhiều khó khăn trong đi lại, sinh hoạt 2. Nguyên nhân gây đau thần kinh tọa Đau dây thần kinh tọa do nhiều nguyên nhân gây ra nhưng trong đó chủ yếu là do tình trạng thoát vị đĩa đệm, vì vậy bệnh lý này thường được gọi là đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa nhân của thoát vị đĩa đệm được nghiên cứu là có liên quan đến một số yếu tố như chấn thương, thoái hóa đĩa đệm... Bệnh thường xuất hiện trên những bệnh nhân trong độ tuổi từ 30 đến 60, và tỉ lệ mắc bệnh ở nam giới nhiều hơn nữ đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm thường có xu hướng xuất hiện nhiều ở những bệnh nhân làm công việc nặng như Khuân vác vật nặng, lái tàu xe, ngồi sai tư thế... đều là những yếu tố nguy cơ gây khởi phát một cơn đau thần kinh tọa. Thoát vị đĩa đệm là nguyên nhân hàng đầu gây đau thần kinh tọa 3. Điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm Điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm nên được thực hiện sớm để giúp bệnh nhân cải thiện được những hạn chế đi lại và hạn chế vận động vùng chi dưới, từ đó có thể tham gia sinh hoạt và làm việc một cách dễ dàng tắc để điều trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm bao gồmĐiều trị nguyên nhân thoát vị đĩa đệmGiảm đauPhục hồi vận độngĐiều trị nội khoa nếu các triệu chứng của bệnh ở mức độ nhẹ và vừaNếu khả năng vận động và cảm giác chi dưới của bệnh nhân bị ảnh hưởng quá nhiều bởi thoát vị đĩa đệm thì cần điều trị bằng ngoại nhân cần được nghỉ ngơi tại giường, không thực hiện những công việc nặng trị đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm cụ thể như sau Điều trị nội khoa Bệnh nhân được nghỉ ngơi tại giường, tránh mang vác nặng hoặc đứng và ngồi một chỗ quá lâuSử dụng một số thuốc giảm đau như Paracetamol 1 – 3g/ngày uống 2 – 4 lần, hoặc Codein và Tramadol 2 – 4 viên/ số bệnh nhân có thể được chỉ định dùng thuốc giảm đau kháng viêm nhóm NSAID như Ibuprofen 400mg x 3 – 4 lần/ngày, meloxicam 15mg/ngày, celecoxib 200mg/ngày... và cần thận trọng khi sử dụng những thuốc này vì nó sẽ gây một số tác dụng không mong muốn lên các hệ cơ quan như tiêu hóa và tim mạch, vì vậy trên lâm sàng bệnh nhân thường được dùng kết hợp thuốc nhóm NSAID với thuốc có tác dụng bảo vệ dạ dày như thuốc ức chế bơm Proton. Thuốc Paracetamol được sử dụng có tác dụng giảm đau cho người bệnh Sử dụng một số loại thuốc giãn cơ như Tolperisone 100 – 150mg x 3 lần/ngày và Eperisone 50mg x 2 – 3 lần/ số thuốc giảm đau thần kinh như Gabapentin 600 – 1200 mg/ngày và Pregabalin 150 – 300mg/ngàyNếu cần thiết có thể thực hiện tiêm Corticosteroid ngoài màng cứng nếu bệnh nhân uống thuốc nhưng không cải thiện được các triệu chứng của đau thần kinh pháp tập vật lý trị liệu, phục hồi chức năngCác bài tập cho bệnh lý đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm như kéo giãn cột sống, xà đơn treo người mức độ vừa phải, bơi, các bài tập cơ vùng thắt lưng, đai đeo cột sống thắt lưngPhương pháp vật lý trị liệu như điện xung, nhiệt trị liệu với parafin, tia hồng ngoại, từ trường, siêu âm trị liệu... Điều trị ngoại khoa Điều trị ngoại khoa được chỉ định khi bệnh nhân có những triệu chứng của hội chứng chùm đuôi ngựa, hẹp ống sống, teo cơ...Các kỹ thuật được thực hiện bao gồmPhẫu thuật lấy bỏ nhân đệm tại vị trí mà thoát vị đĩa đệm gây chèn ép các rễ thần kinhPhẫu thuật cắt cung đốt sống trên những bệnh nhân bị hẹp ống sốngNẹp vít cột sống để cố định đốt sống trong trường hợp thoát vị đĩa đệm nặng gây trượt đốt sống Nẹp vít cột sống được chỉ định đối với người bệnh bị thoát vị đĩa đệm nặng Đau thần kinh tọa do thoát vị đĩa đệm là một bệnh lý khá phổ biến hiện nay, gây cản trở rất lớn đến hoạt động sinh hoạt cũng như đi lại của bệnh nhân. Vì vậy, khi có bất cứ triệu chứng nghi ngờ nào thì người bệnh không nên chủ quan mà cần đến ngay những cơ sở chuyên khoa cơ xương khớp để được thăm khám, chẩn đoán và điều trị kịp thời. Để đặt lịch khám tại viện, Quý khách vui lòng bấm số HOTLINE hoặc đặt lịch trực tiếp TẠI ĐÂY. Tải và đặt lịch khám tự động trên ứng dụng MyVinmec để quản lý, theo dõi lịch và đặt hẹn mọi lúc mọi nơi ngay trên ứng dụng. XEM THÊM Thuốc tiêm khớp Có những loại nào? Khi nào có chỉ định? Tổn thương dây thần kinh quay Những điều cần biết Quy trình chụp x quang xương cẳng chân thẳng nghiêng
Thoát vị đĩa đệm gây cản trở vận động đáng kể. Người bệnh nên áp dụng ngay các cách chữa thoát vị đĩa đệm trong bài viết dưới đây để chấm dứt tình trạng khó chịu, đau đớn thoát vị đĩa đệm là gì?Thoát vị đĩa đệm là tình trạng nhân nhầy đĩa đệm cột sống thoát ra khỏi vị trí bình thường trong vòng sợi, chèn ép vào ống sống hay các rễ dây thần kinh gây đau cột kỳ vị trí nào trên cột sống cũng có thể bị thoát vị đĩa đệm nhưng phổ biến nhất là thoát vị đĩa đệm cổ và thoát vị đĩa đệm cột sống thắt lưng, do các vị trí này chịu nhiều ảnh hưởng nhất từ thói quen sinh hoạt hằng nào cần đến gặp bác sĩTương tự như với các loại bệnh lý khác, việc điều trị thoát vị đĩa đệm cũng cần được thực hiện sớm để kiểm soát bệnh hiệu quả và ngăn ngừa các biến chứng nguy đó, lời khuyên của các chuyên gia cơ xương khớp là người bệnh nên đến ngay các cơ sở y tế khiCác triệu chứng chuyển biến xấu hơn Tình trạng đau, tê hoặc yếu tăng dần đến mức cản trở các hoạt động hàng ngày của người loạn chức năng bàng quang, ruột Hội chứng Chùm đuôi ngựa do nguyên nhân thoát vị đĩa đệm có thể dẫn đến việc đại tiện, tiểu tiện không tự chủ hoặc khó đi tiểu ngay cả khi bàng quang đã cảm giác Tình trạng này có thể xuất hiện ở đùi trong, mặt sau của chân và khu vực xung quanh trực vị đĩa đệm gây đau nhức khó chịu thì nên đi khám sớmTổng hợp những cách chữa thoát vị đĩa đệm hiệu quả nhất hiện nayĐiều trị bằng thuốcNgoài điều trị hỗ trợ, bác sĩ có thể kết hợp dùng thuốc để làm giảm các triệu chứng, giúp người bệnh cảm thấy dễ chịu giảm đau không kê đơnNếu cơn đau của bạn từ nhẹ đến trung bình, bác sĩ có thể đề nghị dùng thuốc giảm đau không kê đơn chẳng hạn như acetaminophen Tylenol và một số loại khác; Ibuprofen Advil, Motrin IB và một số loại khác hoặc Naproxen sodium Aleve.Thuốc giãn cơ cũng có thể được chỉ định cho những bệnh nhân bị co thắt cơ. Tuy nhiên, nhóm thuốc này có tác dụng phụ là gây buồn ngủ, choáng váng, mệt mỏi…Thuốc giảm đau Opioid Nếu các loại thuốc nêu trên không làm giảm cơn đau, bác sĩ có thể cân nhắc đến việc sử dụng ngắn hạn thuốc Opioid như Codeine hoặc kết hợp với oxycodone-acetaminophen Percocet, Roxicet. Người bệnh có thể chịu các tác dụng như gây nghiện, buồn ngủ, buồn nôn, lú lẫn, táo bón…Tiêm thuốc SteroidTrong trường hợp các biện pháp nghỉ ngơi, dùng thuốc giảm đau dạng uống và vật lý trị liệu không hiệu quả, bác sĩ có thể chỉ định tiêm thuốc Steroid vào khu vực xung quanh dây thần kinh cột sống. Đây còn được gọi là phương pháp tiêm ngoài màng cứng và áp dụng cho tình trạng bệnh từ trung bình đến nặng. Thuốc Steroid có thể giúp giảm sưng, giảm đau do thoát vị đĩa đệm và giúp người bệnh đi lại dễ sĩ sẽ thông qua hình ảnh chụp X-quang hoặc CT để tìm ra vị trí thích hợp cho việc tiêm thuốc Steroid. Phương pháp này cần được thực hiện nhiều lần với liệu trình tiêm là 3 mũi/đợt, thời gian giữa các mũi từ 3-7 lý trị liệuVật lý trị liệu hiện đang là phương pháp chữa thoát vị đĩa đệm được ưu tiên hàng đầu bởi điều trị bệnh từ sâu bên trong lại hạn chế lạm dụng thuốc. Chương trình vật lý trị liệu có thể bao gồm châm cứu, bấm huyệt, các bài tập kéo giãn giúp cho cơ mềm dẻo và linh hoạt; các kỹ thuật nắn chỉnh khớp, các loại thiết bị hiện đại sử dụng năng lượng công nghệ cao như sóng cao tần, đèn hồng ngoại, điện xung, thủy trị liệu, nhiệt trị liệu… giúp đưa đĩa đệm sai lệch về đúng vị trí ban lý trị liệu giúp chữa thoát vị đĩa đệm hiệu quảPhẫu thuậtHầu hết các trường hợp thoát vị đĩa đệm không cần phẫu thuật. Tuy nhiên, nếu sử dụng thuốc và vật lý trị liệu không giúp cải thiện triệu chứng trong khoảng 4-6 tuần thì bác sĩ có thể chỉ định bệnh nhân phẫu số phương pháp phẫu thuật phổ biến hiện nay như sauMổ mởPhẫu thuật mở ống sống hay còn gọi là giải nén cột sống sau. Bác sĩ thực hiện sẽ rạch 1 đường trên lưng hoặc cổ bệnh nhân để cắt bỏ Lamina một phần của vòng khung xương bao phủ tủy sống giúp mở rộng ống sống, giải phóng áp lực lên tủy sống, cắt bỏ gai xương gây chèn ép các rễ thần nhiên, phương pháp này có thể làm tổn thương dây thần kinh cột sống, đau lưng dai dẳng, rò rỉ dịch não tủy…Vi phẫuĐây là loại phẫu thuật được sử dụng phổ biến nhất trong chữa thoát vị đĩa đệm. Trong điều kiện đầy đủ các trang thiết bị hiện đại như màng tăng sáng C-arm, kính vi phẫu… sau gây mê, bác sĩ phẫu thuật sẽ tạo một vết rạch nhỏ và sử dụng các dụng cụ đặc biệt để loại bỏ phần đĩa đệm gây áp lực lên rễ thần kinh, thậm chí có thể lấy cả đĩa đệm bị hư hại ra ngoài. Thủ thuật cải tiến, ít xâm lấn này có thể được thực hiện trên các bệnh nhân ngoại soiPhẫu thuật nội soi phù hợp với những bệnh nhân bị chèn ép thần kinh cấp tính do thoát vị đĩa đệm, điều trị nội khoa thất bại, thoát vị di trú… Chỉ qua một đường nhỏ khoảng 2,5cm trên da, bác sĩ sẽ đưa hệ thống ống nội soi và dụng cụ phẫu thuật vào tiếp cận đến cột sống và thực hiện việc giải phóng áp lực cho dây thần kinh, tủy sống. Ngoài phương pháp gây mê, người bệnh cũng có thể được gây tê cục bộ khi mổ nội nhất cột sống Phương pháp này còn được gọi là hợp nhất tủy sống. Sau khi phẫu thuật cắt bỏ đĩa đệm hoặc cắt đốt sống, bác sĩ có thể kết hợp với thủ thuật hợp nhất hai bên đĩa đệm lại với nhau để cố định vĩnh viễn cột sống của người bệnh. Việc hợp nhất hai đốt sống sẽ ngăn xương di chuyển và giúp người bệnh không còn cảm thấy đau bệnh sẽ được gây mê toàn thân để hợp nhất hai hoặc nhiều đốt sống lại với nhau. Bác sĩ cũng có thể dùng vít và thanh kim loại hoặc nhựa được thiết kế riêng để hỗ trợ giữ vững cột sống. Sau hợp nhất cột sống, người bệnh cần phải nằm viện một vài đĩa đệm nhân tạoNếu sau khoảng 6 tháng chữa thoát vị đĩa đệm bằng các phương pháp bảo tồn nhưng không đạt được kết quả khả quan, người bênh có thể được chỉ định thay đĩa đệm nhân tạo. Tuy nhiên, nếu người bệnh bị viêm khớp, loãng xương hoặc có nhiều đĩa đệm cùng bị thoái hóa thì sẽ không thực hiện được phương pháp ảnh đĩa đệm nhân tạoĐể chuẩn bị thay đĩa đệm nhân tạo, người bệnh sẽ được gây mê toàn thân. Bác sĩ phẫu thuật sẽ rạch một vết ở bụng, qua kính vi phẫu, nới rộng khoảng cách giữa hai đốt sống, thay đĩa đệm bị hỏng bằng đĩa nhân tạo có chất liệu nhựa hoặc kim loại. Sau khi thay đĩa đệm, người bệnh sẽ được lưu lại bệnh viện vài ngày để bác sĩ theo dõi và hướng dẫn các bài tập vật lý trị khi chữa thoát vị đĩa đệm bằng phương pháp phẫu thuật, các chuyên gia Cơ xương khớp khuyên rằng nếu xuất hiện các triệu chứng như cơn đau không giảm, dù đã dùng thuốc giảm đau, thuốc tiêm và vật lý trị liệu, các triệu chứng vẫn diễn biến xấu, đi lại khó khăn, mất khả năng kiểm soát ruột hoặc bàng quang,.. thì cần đến ngay các cơ sở y tế để được thăm khám và điều trị kịp các biện pháp điều trị nêu trên, bệnh nhân thoát vị đĩa đệm cũng cần có lối sống lành mạnh và chế độ dinh dưỡng khoa học như dành nhiều thời gian nghỉ ngơi, thường xuyên luyện tập thể dục thể thao vừa sức, tăng cường bổ sung các loại vitamin nhóm B, D và các thực phẩm giàu canxi, tránh các hoạt động cần phải cúi người, nâng vác vật nặng,… giúp cho việc điều trị bệnh hiệu quả và phòng ngừa nguy cơ tái viện Đa khoa Hồng Ngọc – Địa chỉ chữa thoát vị đĩa đệm uy tínThấu hiểu tác động tiêu cực của bệnh lý xương khớp đến sức khỏe và cuộc sống của người bệnh, Khoa Cơ xương khớp – Bệnh viện Hồng Ngọc luôn không ngừng đầu tư và nâng cao chất lượng dịch vụ để đem đến cho khách hàng những trải nghiệm tốt nhất, giúp cải thiện bệnh một cách an toàn, hiệu quả. Tại Hồng Ngọc, người bệnh sẽ được điều trị với phác đồ riêng biệt phù hợp với tình trạng thoát vị đĩa đệm ở mỗi bệnh nhân bao gồm cả vật lý trị liệu và phẫu thuật. Đối với Vật lý trị liêu, Hồng Ngọc ứng dụng kỹ thuật nắn chỉnh chuyên sâu của Áo đưa đĩa đệm về đúng vị trí kết hợp với các thiết bị hiện đại nhập khẩu đồng bộ từ Đức như– Máy Laser tia laser có bước sóng rộng, cường độ mạnh, tác động sâu tới 11cm, vào tận xương và rễ thần kinh, giúp tái tạo mô sinh học bằng ánh sáng, tác động vào điểm căng cứng làm mềm, giải phóng cơ chèn ép.– Máy Xung kích tác động vào điểm căng cứng giúp làm mềm và giải phóng mô cơ bị chèn ép.– Máy Siêu âm kết hợp với điện xung Kết hợp sóng âm năng lượng cao tạo áp lực lên các tế bào và mô cơ, giúp mềm, giãn cơ, giảm đau nhức hiệu quả.– Máy Điện xung giao thoa Tác động sâu đến từng mô cơ, giảm đau, tăng cường vận động của cơ – Máy vi sóng Tập trung sóng cao tần tại 1 điểm giúp chữa lành tổn thương từ sâu bên trong, tăng biên độ vận động.– Máy Từ trường Tác động sâu vào từng mô cơ, tăng cường tuần hoàn máu tại chỗ, giúp đĩa đệm hồi phục nhanh chóng– Máy Kéo giãn Nới rộng khoảng cách giữa các đốt sống, giảm áp lực lên các đĩa đệm và dây thần kinh bị chèn ép, phục hồi đường cong sinh lý.– Bể thủy trị liệu Với nhiệt độ nước từ 35-36 độ C kết hợp lực đẩy của dòng nước, giúp toàn bộ cơ được thư giãn, giải phóng các dây thần kinh bị chèn épHiện tại, khoa Vật lý trị liệu – Bệnh viện Hồng Ngọc có những dòng máy hiện đại mà nhiều tuyến trung ương tại Hà Nội chưa có nhưVi sóngDao động sâuSiêu âm xungĐiện cơ chẩn đoánBồn điện thủy trị liệuMáy tập thụ động chi trên, chi dướiNgoài ra, phẫu thuật sẽ được thực hiện theo chỉ định của bác sĩ Ngoại khoa khi mà các phương pháp điều trị bảo tồn không còn tác thoát vị đĩa đệm tại Bệnh viện Hồng NgọcBên cạnh đó, chữa thoát vị đĩa đệm tại Hồng Ngọc, khách hàng sẽ được thăm khám, điều trị và chăm sóc với dịch vụ y tế chuyên nghiệp, chất lượng hàng đầu miền Bắc– Đội ngũ bác sĩ, kỹ thuật viên giỏi chuyên môn, giàu kinh nghiệm từng công tác tại các bệnh viện tuyến đầu cả nước như BV Bạch Mai, BV Việt Đức, BV Đại học Y Hà Nôi,… Chính vì vậy, người bệnh sẽ được tư vấn và điều trị với các phương pháp trị liệu phù hợp và hiệu quả cao.– Đội ngũ nhân viên y tế chu đáo, chăm sóc khách hàng tận tình, chuyên nghiệp trong suốt quá trình làm thủ tục, thăm khám cũng như điều trị.– Không gian khám bệnh sang trọng, hiện đại, nhiều cây xanh, thoáng mát– Trị liệu hiệu quả từ buổi đầu tiên.– Gói khám và điều trị được thiết kế khoa học phù hợp với độ tuổi và tình trạng bệnh của khách hàng– Nhiều tiện ích hấp dẫn như bãi đỗ xe miễn phí, wiffi tốc độ cao miễn phí, nhà hàng và quầy café sang trọng phục vụ bệnh nhân và người nhà tới thăm khám – điều trị, cây ATM tiện lợi ngay trong bệnh viện…Với những ưu điểm về chất lượng dịch vụ và chuyên môn điều trị, Bệnh viện Hồng Ngọc hiện đang là địa chỉ chữa thoát vị đĩa đệm uy tín cho hàng nghìn bệnh nhân. Khách hàng có nhu cầu chữa thoát vị đĩa đệm tại Hồng Ngọc, vui lòng đăng ký TẠI ĐÂY**Lưu ý Những thông tin cung cấp trong bài viết của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc mang tính chất tham khảo, không thay thế cho việc chẩn đoán hoặc điều trị y khoa. Người bệnh không được tự ý mua thuốc để điều trị. Để biết chính xác tình trạng bệnh lý, người bệnh cần tới các bệnh viện để được bác sĩ thăm khám trực tiếp, chẩn đoán và tư vấn phác đồ điều trị hợp dõi fanpage của Bệnh viện Đa khoa Hồng Ngọc để biết thêm thông tin bổ ích khác
BỆNH ÁN YHCT ĐAU DÂY THẦN KINH TỌA I/ PHẦN HÀNH CHÍNH Họ và tên NGUYỄN THỊ Đ A Tuổi 58 Giới nữ Nghề nghiệp mất sức lao động Địa chỉ Phường thuận lộc, Huế. Ngày vào viện 20/3/20x Ngày làm bệnh án 31/3/20xx II/ BỆNH SỬ 1/ Lí do vào viện đau vùng thắt lưng lan xuống chân 2 bên. 2/ Quá trình bệnh lí Bệnh khởi phát từ từ cách đây 10 năm, với triệu chứng đau âm ỉ vùng thắt lưng , không lan, đau có lúc nặng lúc nhẹ, đau tăng khi vận động nặng, đứng lâu, khi thời tiết thay đổi. Đau giảm khi nghỉ ngơi, xoa dầu nóng. Đau không ảnh hưởng nhiều đến sinh hoạt nên bệnh nhân không có điều trị gì. Cách đây 5 năm bệnh nhân đau ở thắt lưng với các tính chất như trên nhưng với triệu chứng đau nặng hơn, xuất hiện thường xuyên hơn, đau tê lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân p, khi bệnh nhân đi nghiên về bên trái thì cảm thấy đỡ đau. Đau không kèm sưng nóng đỏ, không có teo cơ cứng khớp. Có đi điều trị nhiều nơi cả đông y và tây triệu chứng có giảm nhưng hay tái phát. Cách đây 1 tháng bệnh tái phát với triệu chứng nặng hơn, đau lan xuống 2 chân, đi lại khó khăn ảnh hưởng đến sinh hoạt nên bệnh nhân KHÁM phòng khám đa khoa Nguyễn Xuân Dũ, bệnh nhân được điều trị bằng châm cứu và phục hồi chức năng 10 ngày, triệu chứng có giảm. Bệnh tái phát làm bệnh nhân đi lại khó khăn, ảnh hưởng nhiều đến sinhhoạt nên xin nhập bệnh viện YHCT tỉnh để thăm khám và điều trị. Ghi nhận lúc vào viện Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt. Da niêm mạc hồng nhạt Không phù, không xuất huyết dưới da Mạch 78 l/p Nhiêt độ 370 C HA 120/80 mmhg Nhịp thở 19 Cân nặng 56kg, Chiều cao 1,5m, BMI 24,9 Tuyến giáp không lớn hạch ngoại biên ko sờ thấy Tuần hoàn thỉnh thoảng có đánh trống ngực Ăn kém Đau nhức vùng lưng, lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân cả 2 chân bên p nặng hơn kèm tê, đau khiến bệnh nhân đi lại khó khăn, đi nghiêng về bên trái đỡ đau. Lasegue p 350 Valleix P + Diễn tiến tại bệnh phòng Sau 9 ngày điều trị châm cứu phương huyệt mệnh môn, thận du, đại trường du, giáp tích L5-S1, hoàn khiêu , trật biên, ân môn, thừa phù, ủy trung, thừa sơn, côn lôn, phong thị, dương lăng tuyền. Dùng thuốc đảng sâm 14g, đương quy14g, đỗ trọng14g, kỷ tử14g, đan sâm 14g,tục đoạn12g, bạchthược12g, ngưu tất 12g, độc hoạt 12g, ý dĩ 12g, ngũ gia bì 10g, mộc qua 10g, tần giao10g, phòng phong8g, trần bì 6g, hồng hoa 6g, tế tân 4g, hà thủ ô 12g Vật lý trị liệu tại bệnh phòng bệnh nhân có đỡ 70%, lasegue-, valleix3 điểm. vào ngày 31/3/2018 triệuchứng nặng lên với lasegue+, valleixP 5 điểm, valleix T 3, dấu ấn chuông+. III/ TIỀN SỬ 1. Bản thân Không có tiền sử chấn thương. Không có tiền sử các bệnh lí nội khoa nào. Không có tiền sử bệnh truyền nhiễm như lao, zona… Tiền sử sản phụ khoa PARA 0000, Mãn kinh lúc 54 tuổi , bắt đầu cókinh lúc 14 tuổi, chu kì 30 ngày, kinh đều, màu đỏ sẫm, không có máucục, lượng vừa Mất ngủ 10 năm. Khởi phát đau âm ỉ không đột ngột sau thay đổi tư thế hay bưng vácnặng 2. Gia đình chưa phát hiện bệnh lý liên quan. 3. Sinh hoạt vật chất, lao động, tinh thần Mức sống trung bình Tình chí vui vẻ, hòa đồng Môi trường sống và làm việc + môi trường sống ẩm thấp + nghề nghiệp làm việc gánh vác nặng 20 năm. IV/ THĂM KHÁM THEO YHHĐ 1. Toàn thân Bệnh tỉnh, tiếp xúc tốt Da, niêm mạc hồng nhạt Không phù, không xuất huyết dưới da Mạch 80 l/p Nhiệt 37 HA 110/70mmhg Nhịp thở 20l/p Cân nặng 56kg Chiều cao 1,5m BMI 24,9 2. Cơ quan a. Thần kinh Đau lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân chân P đau hơn chân T, đau tăng khi vận động, làmviệc nặng, đau tăng về đêm gần sáng, khi trời trở lạnh, giảm đau khi xoa dầu nóng, xoa bóp, nghỉ ngơi. Lasegue p + 40 ; Lasegue T + 60 Valleix P + 5/7 điểm cạnh sống L5-S1, nếp lằn mông, giữa đùi, kheo, giữa cẳng chân Valleix T + 3/7điểm cạnh sống L5-S1, kheo, cẳngchân Không thể đứng bằng mũi chân. Dấu bấm chuông+ L5-S1 lan xuống đùi chân phải Dấu Chavany+ Dấu Wasserman- Dấu Dejerine - Dấu Bonnet -, Bệnh nhân có tư thế đi nghiêng về bên trái Đau âm ỉ vùng vai, đau tê lan xuống mặt trước ngoài cánh tay đên khuỷu tay P, đau tăng khi vận động,thời tiết thay đổi, giảm khi nghỉ ngơi, xoa dầu nóng, xoa bóp. Tầm vận động khớp vai trong giới hạn bìnhthường. Nghiệm pháp Spurling + P Nghiệm pháp kéo dãn cột sống cổ + chân không rối loạn cảm giác, không loạn dưỡng b. Cơ- xương- khớp Đau âm ỉ thắt lưng Ấn đau giữa đốt sống thắt lưng L4-L5, L5-S1 Ấn điểm cạnh sống, L5-S1 bên phải đau Vẹo cột sống sang trái ở L2-S1. Không co cứng cơ cạnh sống Đau âm ỉ vùng vai. Ấn đau giữa cột sống C6-C7; C7-D1. ấn đau cạnh cột sống C6-C7-D1, điểm mỏm vai, chỗ bám tận cơ delta, phía ngoài nếp gấp khuỷu Không teo cơ, cứng khớp Dấu neri- Dấu patrick - Dấu Schober- c. Tuần hoàn Thỉnh thoảng có hồi hộp, đánh trống ngực Mỏm tim đập gian sườn V trên đường trung đòn trái Nhịp tim đều rõ, trùng với mạch quay T1, T2 nghe rõ Chưa nghe tiếng tim bệnh lý. d. Hô hấp Không ho, không khó thở Lồng ngực cân xứng, di động đều theo nhịp thở Rì rào phế nang nghe rõ Chưa nghe âm khác e. Tiêu hóa Không ợ hơi, ợ chua Ăn uống tạm, miệng nhạt ăn không ngon. Đi cầu1 lần/ngày, phân vàng, có khuôn Bụng mềm, không u cục Gan lách không sờ thấy f. Tiết niệu- sinh dục Không tiểu buốt, tiểu rắt Nước tiểu vàng trong, lượng nước tiểu khoảng 1,5l/24h Chạm thận -, bập bềnh thận - Ấn các điểm niệu trên, giữa không đau g. Cơ quan khác chưa phát hiện bất thường IV/ CẬN LÂM SÀNG X-Quang gai đốt sông từ L1-L5, thoái hóa đốt sống từ L1-L5, hẹp liên đốt sông L5-S1, vẹo cột sốngsang trái ở L2-S1 CTM các chỉ số nằm trong giới hạn bình thường. Sinh hóa máu các chỉ số nằm trong giới hạn bình thường V/ TÓM TẮT – BIỆN LUẬN – CHẨN ĐOÁN 1/ Tóm tắt Bệnh nhân nữ 58 tuổi, vào viện vì đau thắt lưng lan xuống đùi, cẳng chân 2 bên .Qua thăm khám lâm sàng, cận lâm sàng kết hợp hỏi tiền sử bệnh sử bệnh nhân , em rút ra hội chứng dấu chứng có giá trị sau Hội chứng cột sống thắt lưng Đau âm ỉ vùng cột sống thắt lưng , đau tăng khi vận động, khi thay đổi tư thế, khi thay đổi thời tiết , giảm khi nghỉ ngơi, bệnh nhân đi nghiêng về bên trái đỡ đau. Ấn điểm cạnh sống, L5-S1 + Vẹo cột sống sang trái. Hội chứng chèn ép rễ thần kinh S1 Đau lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân chân P đau hơn chân T Hệ thống điểm Valleix P + 5/7 Hệ thống điểm Valleix T + 3/7 Lasege P + 40 Lasege T+ 60 Dấu ấn chuông + ở L5-S1. Không thể đứng bằng mũi chân Hội chứng rễ thần kinh Đau âm ỉ vùng vai, đau tê lan xuống mặt trước ngoài cánh tay đên khuỷu tay P, đau tăng khi vận động,thời tiết thay đổi, giảm khi nghỉ ngơi, xoa dầu nóng, xoa bóp. Tầm vận động khớp vai trong giới hạn bìnhthường. Ấn đau cạnh cột sống cổ, điểm mỏm vai, chỗ bám tận cơ delta, phía ngoài nếp gấp khuỷu Nghiệm pháp Spurling + P Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ+ Dấu chứng có giá trị chân trái không rối loạn cảm giác, không loạn dưỡng không sụt cân gần đây không sốt không có bệnh sử ung thư, bệnh lý nhiễm trùng đại tiểu tiện tự chủ không rối loạn cảm giác thân dưới không có bệnh sử chấn thương Không có tiền sử mắc lao hiện tại đang đáp ứng điều trị bảo tồn X-quang gai đốt sông từ L1-L5, đặc xương dưới sụn từ L1-L5, hẹp liên đốt sống L5-S1, vẹo cột sống sang trái ở L2-S1. Kết luận thoái hóa đốt sống L1-L5, Chẩn đoán sơ bộ Đau thần kinh tọa 2 bên thể S1do thoái hóa cột sống L1-L5/ td thoát vị đĩa đệm/ đauvai gáy. 2/ Biện luận – Về chẩn đoán trên bệnh nhân biểu hiện lâm sàng của 2 hội chứng cột sống thắt lưng và hội chứng chèn ép rễ thần kinh S1, chẩn đoán đau thần kinh tọa đặt ra khi trên lâm sàng với các triệu chứng đau âm ỉ vùng thắt lưng đau tê dọc theo đường đi dây thần kinh tọa, lasegue +, valleix +. Như vậy với bệnh nhân này chẩn đoán đau thần kinh tọa đã rõ. – Về thể đau TK tọa, Đau âm ỉ vùng thắt lưng, lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân chân P đau hơn chân T. Phản xạ gân gót không giảm . Các đặc điểm trên phù hợp với đau thần kinh tọa 2 bên thể S1 -Về nguyên nhân trên bệnh nhân các dấu hiệu cờ đỏ đối với đau thắt lưng - nên ta loại trừ nhóm nguyên nhân toàn thân, ác tính. Với nhóm nguyên nhân tại chỗ 2 nguyên nhân thường gặp là thoát vị đĩa đệm và thoái hóa cột sống. Bệnh nhân có tiền sử chẩn đoán thoái hóa L5-S1 trước đây nên nghĩ nhiều thoái hóa cột sống là 1 nguyên nhântrong bệnh sinh đau TK tọa trên bệnh nhân. Mặt khác về thoát vị đĩa đệm, theo tiêu chuẩn Saporta 1980, để chẩn đoán 1 trường hợp thoát vị đĩa đệm cần đáp ứng 4/6 tiêu chuẩn thuần lâm sàng, trên bệnh nhân này có 4/6 tê thắt lưng dọc theo đường đi thần kinh tọa + vẹo cột sống. hiệu “bấm chuông” dương tính Như vậy theo Saporta trên bệnh nhân này đã đủ để chẩn đoán có thoát vị đĩa đệm trên bện nhân này. Cho nên e nghi ngờ trên bệnh nhân này có tình trạng thoát vị trên nền thoái hóa cột sống. Tuy nhiên e đề nghị chụp MRI để chẩn đoán xác định tình trạng thoát vị trên bệnh nhân – Về chẩn đoán phân biệt +Đau thần kinh đùi Bệnh nhân không đau mặt trước đùi, không mất và giảm phản xạ gân gối nên em loại trừ bệnh lý này trên bệnh nhân, Wasserman- +Đau khớp háng Bệnh nhân đau tăng khi vận động , thay đổi tư thế , giảm khi nghỉ ngơi nhưng mặt đau không phải là mặt trước đùi , nếp bẹn kèm theo nghiệm pháp Patrick - – Về biến chứng các biến chứng đối với đau TK tọa bao gồm rối loạn chức năng thần kinh cơ và da do tk tọa chi phối. Trên bệnh nhân này hiện tại không thấy loạn dưỡng trên 2 chi dưới kèm rối loạn cảm giác nên em nghĩ chưa có biến chứng trên bệnh nhân. – Về chẩn đoán đau vai gáy trên bệnh nhân đã rõ với triệu chứng đau âm ỉ vùng vai, đau tê lan xuống mặt trướcngoài cánh tay đến khuỷu tay P. Nghiệm pháp Spurling + P , Nghiệm pháp căng rễ thần kinh cổ+ Về nguyên nhân thường gặp nhất 70-80% là do thoái hóa cột sống cổ, thoái hóa các khớp liên đốt và liên mỏm bên làm hẹp lỗ tiếp hợp. Với một bệnh nhân lớn tuổi, mãn kinh và có tình trạng thoái hóa cột sống thắt lưng nên e nghĩ nguyên nhân thoái hóa là phù hợp với bệnh nhân trên. Tuy nhiên em đề nghị chụp XQ tư thế trước sau,nghiêng và chếch ¾ để làm rõ chẩn đoán trên c. Chẩn đoán cuối cùng Đau thần kinh tọa 2 bên thể S1do thoái hóa cột sống thắt lưng / theo dõi thoát vị đĩa đệm/ đau vai gáy TRỊ -Nguyên tắc điều trị Về đau thần kinh tọa Hiện tại bệnh nhân chỉ đau âm ỉ , không cứng cơ nên em nghĩ không cần cho các thuốc giãn cơ, giảm đau. Để bệnh nhân nghỉ ngơi, vận động nhẹ, bổ sung thuốc bổ vitamin nhóm B cho bệnh nhân kéo giãn cột sống , chiếu đèn hồng ngoại, sóng ngắn vùng thắt lưng Về đau vai gáy Điều trị triệu chứng bệnh kết hợp với giải quyết nguyên nhân nếu có thể. Kết hợp điều trị thuốc với các biện pháp vật lý trị liệu,phục hồi chức năng và các biện pháp không dùng thuốckhác. V/ Thăm khám theo y học cổ truyền 1. Tứ chẩn Vọng chẩn Hữu thần, thái độ hòa nhã, không cáu gắt. Sắc nhạt. Dáng đi nghiêng về bên trái, bước đi khập khiễng. Vẹo cột sống sang trái. Tổng trạng trung bình Da không khô, không phù thũng, không vàng da, không ban chẩn Móng tay móng chân không nứt, không có khía, không có hình dạng bất thường. Mũi cân đối không chảy nước mũi Niêm mạc mắt hồng nhạt, quầng mắt thâm, mắt không sưng đỏ, không chảy nước mắt sống, không chảy dịch. Môi hồng nhuận Lưỡi hình dáng cân đối Chất lưỡi nhạt màu, Cử động lưỡi linh hoạt Rêu lưỡi trắng mỏng, tươi nhuận. Vùng cột sống không sưng đỏ, 2 chi không sưng phù Văn chẩn Tiếng nói rõ ràng không hụt hơi Không khó thở, hơi thở không hôi Không ho, không nấc. Cơ thể không có mùi bất thường. Vấn chẩn Thích uống nước ấm, tắm nước ấm, sợ gió, sợ lạnh. Không đạo hãn, không tự hãn. Ăn uống tạm, miệng nhạt, không ngon miệng, sau khi ăn đầy bụng, khó tiêu, không ợ hơi ợ chua Đại tiện phân vàng có khuôn 1 lần/ 1 ngày, Tiểu tiện vàng trong lượng Không tiểu buốt , tiểu rắt. Không tiểu đêm Hay hồi hộp đánh trống ngực Không đau đầu, không hoa mắt chóng mặt Không khát, uống nước theo thói quen, thích uống nước ấm, 1,5l/ngày. Mất ngủ, trằn trọc, suy nghĩ nhiều, khó vào giấc ngủ, ngủ hay mơ, ngủ 3-4 tiếng, sau khi dậy người mệt mỏi, uể oải. Hay quên Đau nhức vùng vai gáy, đau âm ỉ , đau tê lan xuống mặt trước ngoài cánh tay đến khuỷu tay P, đau tăng khi vận động, thời tiết thay đổi, giảm khi nghỉ ngơi, xoa dầu nóng, xoa bóp. Ban đêm hay bốc hỏa dù trời nóng hay trời lạnh Vùng thượng vị không trướng đầy Không ho, không khạc đàm. Mãn kinh lúc 54 tuổi , bắt đầu có kinh lúc 14 tuổi, chu kì 30 ngày, kinh đều, màu đỏ sẫm, không có máu cục, lượng vừa. Huyết trắng lượng ít, không hôi. Chưa điều trị bệnh phụ khoa nào. Có lập gia đình năm 40 tuổi, 2 năm sau chồng mất, không có con. Đau vùng thắt lưng 10 năm trước, có điều trị nhiềunơi, có đỡ nhưng sau tái phát Đau âm ỉ vùng thắt lưng, đau tăng khi thay đổi thời tiết, đi lại; đau tăng về đêm gần sáng . Đau giảm khi xoa dầu nóng, xoa bóp, nghiêng bên trai, đau lan xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân 2 chân kèm tê. Đau âm ỉ vùng vai, đau tê lan xuống mặt trước ngoài cánh tay đên khuỷa tay P, đau tăng khi vận động, thời tiết thay đổi, giảm khi nghỉ ngơi, xoa dầu nóng, xoa bóp. Ấn đau các huyệt kiên ngung, tý nhu, khúctrì. Thiết chẩn Da không khô, không ra mồ hôi, da lòng bàn tay nóng không ra mồ hôi. Phúc chẩn bụng mềm , không đầy trướng, không u cục, ấn vào không đau. Ấn đau chính giữa cột sống thắt lưng L4-L5 huyệt yêu dương quan, L5-S1. Ấn điểm cạnh sống thắt lưng L5-S1cách cột sống 1-2cm 2 bên đau, đau lan xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân. Ấn vùng quanh khớp háng không đau, tầm động khớp háng bình thường. Ấn mặt trước đùi không đau 2 bên. Ấn đau hoàn khiêu, thừa phù, ân môn, ủy trung, thừa sơn bên P Ấn đau hoàng khiêu, ủy trung, thừa thù bên T. 2 chân không rối loạn cảm giác, không lọạn dưỡng, không teo cơ. Ấn đau chính giữa cột sống cổ C6-C7, C7-D1 huyệt đại chùy. Ấn điểm cạnh cột sống từ C6-C7-D1 2 bên đau Ấn đau kiên tỉnh, kiên ngung, tý nhu, khúc trì P. Đau thiện án Tay P không rối loạn cảm giác, không loạn dưỡng,không teo cơ. Vận động khớp vai bình thường. Mạch trầm hoãn huu luc 2. Tóm tắt quy về bát cương Tóm tắt Bệnh nhân nữ 58 tuổi vào viện vì lý do đau vùng thắt lưng lan xuống 2 chân. Qua vọng văn vấn thiết em rút ra các chứng hậu và chứng trạng sau. Hội chứng tạng phủ + Tâm tỳ lưỡng hư hồi hộp, đánh trống ngực Mất ngủ, trằn trọc, suy nghĩ nhiều, khó vào giấc ngủ, ngủ haymơ, ngủ 3-4 tiếng, sau khi dậy người mệt mỏi, uể oải. Hay quên. Ăn tạm, không ngon miệng. Đầy bụng, khó tiêu. Sắc mặt nhạt màu Chất lưỡi nhạt Mạch trầm. + Thận âm hư Đau lưng. Da lòng bàn tay nóng. Ban đêm ngủ hay bốc hỏa. Mất ngủ. Hội chứng khí huyết kinh lac Khí trệ huyết ứ ở kinh túc thái dương bàng quang đau cạnh cột sống thắt lưng, ấn đau thừa phù, ân môn, ủy trung, thừa sơn. Đau kèm cảm giác tê. Khí trệ huyết ứ ở kinh thủ dương minh đại trường đau cạnh sống cổ, ấn đau huyệt kiên tỉnh, kiên ngung, tý nhu, khúc trì. Khí trệ huyết ứ ở mạch đốc ấn đau các huyệt đại chùy, yêu dương quan; ấn đau giữa cột sống C5-C6, L5-S1. Bát cương Biểu chứng bệnh biểu hiện ở kinh lạc, rêu lưỡi mỏng, Lý chứng bệnh ảnh hưởng đến tạng phủ; mạch trầm. Hư chứng Bệnh mắc lâu ngày. 10 năm, lưỡi bệu có dấu răng, đau thiện án, rêu lưỡi mỏng. Thực chứng ấn đau các điểm cạnh sống L5-S1, đau lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân, đau âm ỉ kèm tê bì, mạch hữu lực. Hàn chứng rêu lưỡi trắng, thích uống nước ấm, thích tắm nước ấm, sợ lạnh, không khát, đau tăng về đêm gần sáng, lạnh đau tăng, xoa dầu nóng đỡ đau, tiểu tiện vàng trong. Nhiệt chứng mạch đới sác, ban đêm hay bốc hỏa, long bàn tay nóng. Các chứng trạng âm tính có giá trị Không sốt không sợ nóng Không ho, khạc đàm Không có tiền sử chấn thương hay phẫu thuật vùng cộtsống. Ấn vùng quanh khớp hang không đau. Không đau mặt trước đùi Cử động khớp hang trong giới hạn bình thường. Cử động khớp vai bình thường. Chẩn đoán sơ bộ Bệnh danh Tọa cốt phong 2 bên Tạng phủ Tâm, Tỳ. Kinh lạc Túc Thái Dương Bàng Quang , thủ dương minh đại trường, mạch đốc. Bát cương Biểu lý kiêm chứng- hư trung hiệp thực, Hàn nhiệt thác tạp Nguyên nhân Ngoại nhân phong hàn thấp Bất nội ngoại nhân lao động Thể bệnh phong hàn thấp B. Biện chứng luận trị Về chẩn đoán Trên bệnh nhân có các biểu hiện Đau vùng thắt lưng, lan xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân đến tận cùng ở bắp chân theo đường đi kinh bàng quang chân P quang nguyên du, Thừa Phù, ân môn, Ủy Trung, thừa sơn chân T quan nguyên du, ủy trung, thừa sơn. Nên em nghĩ nhiều đến chẩn đoán tọa cốt phong Em chẩn đoán tạng phủ là tâm, tỳ, thận. Thứ nhất chứng hậu tâm tỳ lưỡng hư là do tâm huyết hao tổn và tỳ khí bị tổn hại. Tâm huyết hư k nuôi dưỡng được tâm thần mà gây các triệu chứng mất ngủ, ngủ hay mê, ngủ không sâu giấc, ngủ dễ tỉnh. Huyết thuộc âm, tâm là tạng thuộc âm, huyết hư không nuôi dưỡng được tâm mà gây nên hồi hộp, đánh trống ngực. Tỳ khí hư làm sự vận chuyển của tỳ sút kém mà phát sinh ra các chứng đầy bụng, khó tiêu, ăn kém ăn k ngon. Thứ hai, em chẩn đoán bệnh nhân có chứng hậu thận âm hư, do bệnh lâu ngày ảnh hưởng đến tạng thận, 1 phần do lao động nặng, ăn kém làm tân dịch của tạng thận bị suy tổn. Ở bệnh nhân có biểu hiện đau vùng thắt lưng lan dọc xuống mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân; ấn đau các huyệt thừa phù, ân môn, ủy trung, thừa sơn, tương ứng với đường đi của kinh túc thái dương bàng quang. Ấn đau vùng cột sống cổ lan ra vùng vai rồi xuống mặt trước ngoài cánh tay, mặt trước ngoài cẳng tay; ấn đau các huyệt kiên ngung, tý nhu, khúc trì, tương ứng với đường đi của kinh thủ dương minh đại trường. Ngoài ra ở bệnh nhân còn có ấn đâu các huyệt Đại chùy, yêu dương quan; ấn đau đoạn giữa C5-C6,L5-S1. Em nghĩ phần nhiều do ngoại tà xâm phạm vào kinh lạc gây khí trệ huyết ứ gây nên tình trạng đau. Ngoài ra, ở bệnh nhân bệnh xảy ra đã lâu , cơ thể suy yếu, ăn kém, mất ngủ làm khí hư huyết thiếu; khí hư không vận hành được huyết gây nên tình trạng khí trệ huyết ứ mà gây đau. Về chẩn đoán bát cương Thứ nhất về vị trí nông sâu Bệnh nhân có biểu hiện ở biểu như bệnh tại cơ xương khớp, kinh lạc, rêu lưỡi mỏng, sợ gió, sợ lạnh phần nhiều do thể trạng vốn hư yếu, phong hàn nhân cơ hội phạm vào kinh thái dương. Hàn chủ về ngưng trệ, kinh lạc bị bít nghẽn, khí huyết vận hành không thông, không thông thì đau cho nên thấy mảng lưng đau trệ, cổ gáy đau cứng, bả vai khó chịu đau ê ẩm kèm sợ lạnh. Tà khí lục dâm trú ở bì phu cơ biểu làm trở trệ sự tuyên phát bình thường của vệ khí, uất lại mà hóa nhiệt; vệ khí trở trệ làm cơ biểu không được ôn chiếu sinh ra chứng sợ gió sợ lạnh, biểu tà chưa nhập lý nên sự thay đổi của lưỡi còn chưa rõ, mới chỉ thấy rêu lưỡi trắng và mỏng. Biểu hiện ở Lý bệnh đã mắc lâu năm 10 năm, đã ảnh hưởng đến tạng tâm, tỳ; bệnh lớn tuổi có tiền sử làm việc mang vác nặng hiện tại ăn tạm không thèm ăn, mất ngủ dẫn đến khí hư huyết thiếu, khí không đủ sức thúc đẩy huyết lưu thông, huyết dịch không thông, khí trệ huyết ngưng, kinh lạc không được nuôi dưỡng gây nên chứngđau lưng đau vai gáy . Vì bệnh kéo dài 10 năm, đã ảnh hưởng đến tạng phủ nên e thiên về lý nhiều hơn Thứ hai về trạng thái của bệnh em chẩn đoán là hư chứng với các triệu chứng như bệnh đã lâu ngày, đau thiện án, lưỡi bệu có dấu răng. Hư chứng ở đây là chỉ phần chính khí của cơ thể hư suy, do cơ thể hư nhược, lao động nặng nhọc, ăn uống thất thường, ăn kém làm cho khí huyết hư. Bệnh nhân có biểu hiện của thực chứng em nghĩ là do tà khí xâm phạm vào khinh lạc gây khí trệ huyết ứ. Thứ ba về tính chất bệnh Bệnh nhân có các biểu hiện hàn chứng thích uống nước ấm, thích tắm nước ấm, không khát, lạnh đau tăng, sợ lạnh, rêu lưỡi trắng. Hàn chứng ở đây là do hàn tà xâm nhập vào cơ thể làm dương khí bất túc, không phát huy được tác dụng ôn chiếu mà sinh ra chứng sợ lạnh thích ấm, tân dịch chưa bị tổn thương nên miệng nhạt không khát, âm thịnh dương hư nên thích ăn ấm nóng; hàn thấp nội thịnh, dương hư bất hóa làm cho chất lưỡi nhạt, rêu lưỡi trắng mà nhuận. Ngoài ra ở bệnh nhân còn có biểu hiện của nhiệt chứng, em nghĩ nhiệt chứng ở đây là hư nhiệt do phần huyết hư ảnh hưởng đến phần âm. Về nguyên nhân theo em là ngoại nhân phong, hàn, thấp và bất nội ngoại nhân lao động. Ở bệnh nhân, bệnh khởi phát cách đây 1 tháng đúng vào mùa có khí hậu lạnh, ẩm. Chính khí của cơ thể giảm sút, tà khí lục dâm xâm nhập vào kinh lạc gây ứ trệ sự vận hành của khí huyết làm cho thần kinh do kinh mạch chi phối không được nuôi dưỡng đầy đủ mà sinh ra đau nhức Trên bệnh nhân này ngoại nhân là phong hàn thấp. Đau có hướng lan từ thắt lưng lan xuống mông, mặt sau đùi, mặt sau cẳng chân ứng với đặc tính của phong là động, thay đổi, di chuyển. Tính của hàn là co rút, ngưng trệ khí huyết làm cho kinh lạc ngưng trệ, không thông gây đau, hàn xâm nhập vào bì phu cơ biểu làm vệ khí không tuyên phát mà gây nên chứng sợ gió sợ lạnh. Ở bênh nhân có có triệu chứng đau tăng khi trời lạnh, rêu lưỡi trắng, xoa dầu nóng đỡ đau. Nên em nghĩ có hàn tà gây bệnh Ở bệnh nhân này có triệu chứng đau kèm mỏi nặng vùng vai gáy, vùng thắt lưng và 2 chân, đau khi thay đổi thời tiết. Kèm thêm yếu tố môi trường sống ẩm thấp nên thấp cũng là 1 yếu tố bệnh nguyên. Ngoài ra, yếu tố nghề nghiệp cũng đóng vai trò trong bệnh nguyên. Ở bệnh nhân có tiền sử lao động gánh vác nặng kéo dài, điều này dẫn đến máu đến nuôi dưỡng vùng thắt lưng, vùng vai gáy và kinh mạch vùng này bị hạn chế, lâu ngày sinh ra khí trệ huyết ứ gây đau nhức. Chẩn đoán thể lâm sàng trên bệnh nhân này là phong hàn thấp nên dùng phép điều trị khu phong, tán hàn, trừ thấp, hành khí hoạt huyết Ở bệnh nhân có biểu hiện bệnh ở cả biểu lẫn lý, vì lần nhập viện này là khởi phát đợt cấp của bệnh kết hợp với thể trạng bệnh nhân hư suy bệnh ảnh hưởng đến tạng tâm, tỳ nên dùng phép điều tri khu phong tán hàn trừ thấp và phép bổ song song với nhau. Khi bệnh cải thiện, tác nhân phong, hàn , thấp được giải trừ thì đó thiên về phép bổ các tạng phủ hư suy tâm, tỳ Thể trạng bệnh nhân hư nên dùng phép bổ để nâng cao chính khí. Còn thực ở đây là do tà khí xâm phạm vào kinh lạc gây khí trệ huyết ứ, mặt khác cũng có thể do khí hư huyết thiếu, khí không đủ sức thúc đẩy huyết lưu thông nên gây khí trệ huyết ứ nên dùng phép hành khí hoạt huyết, bổ khí huyết. Trên bệnh nhân có cả hàn lẫn nhiệt. Hàn ở đây là do hàn tà xâm nhập vào cơ thể nên dung phép tán hàn, ôn kinh chỉ thống. Nhiệt là hư nhiệt do huyết hư ảnh hưởng đến phần âm nên dùng phép thanh nhiệt bổ huyết. Ở bệnh nhân có các triệu chứng mất ngủ, ăn tạm, không thèm ăn dó đó e gia thêm các vị thuốc có tác dụng an thần, kiện tỳ; châm cứu các huyệt có tác dụng an thần, bổ tỳ vị. Với phép điều trị trên em dùng bài Độc hoạt tang ký sinh thang gia thêm các vị bổ tâm an thần,kiện tỳ vị. Chẩn đoán cuối cùng Bệnh danh tọa cốt phong 2 bên Tạng phủ tâm, tỳ, thận. Kinh lạc Túc Thái Dương Bàng Quang , thủ dương minhđại trường, mạch đốc. Bát cương lý hư nhiệt kiêm biểu thực hàn. Thể lâm sàng phong hàn thấp Nguyên nhân ngoại nhân phong hàn thấp nội nhân lao động *Bệnh án chỉ mang tính chất tham khảo* Xem thêm BỆNH ÁN YHCT LIỆT NỬA NGƯỜI
bệnh án ngoại thần kinh thoát vị đĩa đệm