bản án tố tụng hành chính
Luật tố tụng hành chính hiện hành là tập hợp nguyên tắc cơ bản trong tố tụng hành chính, trình tự thủ tục giải quyết vụ án hành chính, quyền và nghĩa vụ của các cá nhân tổ chức liên quan đến việc xét xử vụ án hành chính.
Trong mối tương quan giữa tính tư pháp và tính hành chính, tính hành chính trong thi hành án hành chính thể hiện khá rõ nét. Yếu tố căn bản trong thi hành án là tính chất chấp hành, quản lý và phương pháp mệnh lệnh, bắt buộc, nghĩa là tính hành chính là cái nổi trội và cơ bản.
2. Người bị kết án thuộc trường hợp được miễn chấp hành hình phạt nhưng sau ngày 01-8-2016 (ngày Nghị quyết số 01/2016/NQ-HĐTP của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có hiệu lực thi hành) họ đã chấp hành xong hình phạt chính nhưng chưa chấp hành hoặc đã chấp hành được một phần hình phạt bổ
Tòa án cấp sơ thẩm hủy bản án hành chính sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ việc cho tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại, bởi Tòa án cấp sơ thẩm không ra thông báo thụ lý bổ sung đối với yêu cầu hủy QĐ 07 là vi phạm quy định tại các Điều 125, 126 Luật tố tụng hành chính
2.2. Khái niệm đương sự trong vụ án hành chính. Đương sự là một khái niệm cơ bản khi tiếp cận ngành luật tố tụng. Việc xác định không đúng tư cách đương sự sẽ là căn cứ để hủy các bản án, quyết định của Tòa án. Việc xác định đúng tư cách đương sự sẽ
modifikasi jupiter mx 135 warna biru jari jari. Đặt vấn đềTheo quy định tại Điều 241 Luật Tố tụng hành chính LTTHC hiện hành, Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính có các quyền hạn sau Giữ nguyên bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án; sửa bản án sơ thẩm; hủy bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án; đình chỉ xét xử phúc thẩm. Tuy nhiên trong phạm vi bài viết này tác giả chỉ tập trung bình luận, phân tích quy định của pháp luật TTHC về thẩm quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án tại khoản 3 Điều 241 LTTHC. Trên cơ sở đó, tác giả chỉ ra một vài điểm bất cập, hạn chế trong quy định của pháp luật TTHC và đưa ra kiến nghị, giải pháp nhằm hoàn định của pháp luật tố tụng hành chính – một số hạn chế và kiến nghị hoàn thiệnBản án hành chính sơ thẩm do Tòa án cấp sơ thẩm ban hành, nhân danh nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. Bản án sơ thẩm là văn bản ghi nhận phán quyết của Tòa án sau khi xét xử vụ án tại phiên tòa, nhằm thể hiện việc chấp nhận hay không chấp nhận yêu cầu của người khởi kiện, đồng thời còn xác định trách nhiệm pháp lý của đương sự tùy theo sự phán quyết của Hội đồng xét xử sơ thẩm. Về nguyên tắc, khi Tòa án ban hành bản án hành chính sơ thẩm thì bản án phải được thực thi một cách nghiêm chỉnh. Tuy nhiên, vì lý do chủ quan, khách quan khác nhau mà bản án sơ thẩm còn chưa chính xác, ảnh hưởng đến lợi ích của các đương sự. Do đó, LTTHC cho phép đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự được kháng cáo, Viện kiểm sát được kháng nghị đối với bản án sơ thẩm chưa có hiệu lực theo thủ tục phúc thẩm trong khoảng thời gian luật định. Khi có kháng cáo, kháng nghị về bản án sơ thẩm hợp pháp thì thủ tục phúc thẩm phát sinh, xác định trách nhiệm của Tòa án cấp phúc thẩm trong việc xét xử lại vụ án, thẩm định tính có căn cứ và tính hợp pháp của bản án sơ thẩm bị kháng cáo, kháng nghị. Căn cứ vào khoản 3 Điều 241 LTTHC khi thẩm định lại bản án sơ thẩm thì Hội đồng xét xử phúc thẩm được quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử thể dễ dàng nhận thấy, đây là một trong những quyền hạn quan trọng của Hội đồng xét xử phúc thẩm VAHC, xác định bản án sơ thẩm được ban hành chưa đúng còn sai sót. Vậy Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án trong trường hợp nào? Khoản 3 Điều 241 LTTHC quy định Hội đồng xét xử phúc thẩm có quyền hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại trong hai trường hợp sauTrường hợp thứ nhất Có vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụngCó thể thấy, “có vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” là căn cứ pháp lý đầu tiên để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Thế nhưng, cho đến thời điểm này, LTTHC và các văn bản hướng dẫn thi hành, lại không có quy định giải thích cụ thể các sai sót bị xem là vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng và cũng chưa đề ra tiêu chí phân biệt ranh giới giữa vi phạm nghiêm trọng với vi phạm chưa tới mức nghiêm trọng. Chính vì vậy, việc hiểu cụ thể về vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm còn có những ý kiến khác kiến thứ nhất cho rằng, “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là việc Tòa án cấp sơ thẩm đã có những sai phạm về mặt thủ tục tố tụng dẫn đến việc giải quyết xét xử vụ án không tuân thủ những quy định của pháp luật tố tụng hành chính làm ảnh hưởng đến quyền và nghĩa vụ của đương sự vụ án[1]. Có phần khác, ý kiến thứ hai đưa ra cách hiểu sau “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng được hiểu là những vi phạm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm đến quyền tố tụng của những người tham gia tố tụng[2]. Như vậy, việc LTTHC không giải thích rõ cụm từ “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng” đã làm cho việc hiểu và áp dụng pháp luật gặp khó khăn, lúng túng, thiếu thống nhất giữa các địa phương, các cấp Tòa, ảnh hướng đến chất lượng trong phán quyết của bản án phúc những phân tích trên đây, để bảo đảm việc áp dụng pháp luật được thống nhất, chính xác thì tác giả xin kiến nghị về khái niệm vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng hành chính như sau vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng là những vi phạm về mặt thủ tục tố tụng làm ảnh hưởng đến việc xác định sự thật, khách quan của vụ án không chính xác hoặc xâm phạm đến quyền, nghĩa vụ tố tụng của những người tham gia tố tụng. Để làm rõ được khái niệm này, tác giả xin nêu một số những vi phạm về thủ tục tố tụng của Tòa án cấp sơ thẩm bao gồm cả việc chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, cũng như một số việc cần phải tiến hành sau phiên tòa; những vi phạm cũng rất đa dạng song có thể nêu lên một số vi phạm thủ tục tố tụng thường xảy ra dẫn đến việc hủy bản án sơ thẩm để xét xử sơ thẩm lại như sau vi phạm về thành phần hội đồng xét xử; xác định không đúng tư cách đương sự; không đưa người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vào tham gia tố tụng khi giải quyết vụ án; không thay đổi Thẩm phán, Hội thẩm nhân dân, Thư ký phiên tòa khi thuộc trường hợp phải từ chối, thay đổi theo quy định của LTTHC; vi phạm về thủ tục tiến hành phiên tòa; bỏ sót chưa giải quyết triệt để hết các yêu cầu của người khởi kiện; không tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ; đình chỉ giải quyết một phần yêu cầu của người khởi kiện không đúng, xác định nhầm đối tượng khởi kiện, việc nghị án không đúng…[3]Bên cạnh đó, một điều cần lưu ý, không phải tất cả các vi phạm pháp luật TTHC của tòa án cấp sơ thẩm đều là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm để xét xử lại mà những vi phạm pháp luật đó phải đến mức nghiêm trọng, tức là làm cho việc giải quyết đó thiếu khách quan, toàn diện, xâm phạm đến quyền và lợi ích hợp pháp của các đương sự. Còn những vi phạm pháp luật mà không làm ảnh hưởng nghiêm trọng thì không coi là căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án và chuyển hồ sơ cho tòa án cấp xét xử sơ thẩm xét xử hợp thứ hai Phải thu thập chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được Chứng cứ trong vụ án hành chính là những gì có thật được đương sự, cơ quan, tổ chức, cá nhân khác giao nộp, xuất trình cho Tòa án trong quá trình tố tụng hoặc do Tòa án thu thập được theo trình tự, thủ tục do Luật định mà Tòa án sử dụng làm căn cứ để xác định các tình tiết khách quan của vụ án cũng như xác định yêu cầu hay sự phản đối của đương sự là có căn cứ và hợp pháp[4]. Trong TTHC, chứng cứ được xem là căn cứ quan trọng không thể thiếu để Tòa án giải quyết vụ án khách quan, chính xác và đúng pháp luật. Về nguyên tắc, các chứng cứ được sử dụng phải đáp ứng hết các tiêu chuẩn khách quan, toàn diện, đầy đủ và chính xác. Khi vụ án được xét xử lại theo trình tự phúc thẩm, Tòa án cấp phúc thẩm đã phát hiện sự tồn tại của các chứng cứ mới quan trọng mà Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ phải hủy bản án sơ thẩm và trả hồ sơ để Tòa án sơ thẩm xét xử lại vụ vậy trong căn cứ này, chúng ta phải làm rõ nội dung thế nào là chứng cứ mới, các đặc điểm để xác định một chứng cứ được coi là mới và trường hợp nào được hiểu là Tòa án cấp phúc thẩm không thể bổ sung ngay được. Hiện nay, pháp luật TTHC chưa có quy định nào nhằm xác định chứng cứ mới quan trọng trong vụ án hành chính nên việc hiểu về nó cũng còn có những lúng túng, băn khoăn nhất định, cụ thể Một là, nếu các chứng cứ đã tồn tại trong giai đoạn giải quyết sơ thẩm vụ án nhưng nó không xuất hiện vì do một trong các đương sự cố tình che giấu không làm cho chúng xuất hiện và Tòa án cũng không thể phát hiện ra đến giai đoạn phúc thẩm mới phát hiện ra vậy các chứng cứ này có được coi là mới hay không? Hai là trường hợp ngược lại, trong giai đoạn sơ thẩm, các đương sự đã xuất trình giao nộp các chứng cứ này nhưng Tòa án đã không sử dụng làm căn cứ để giải quyết vụ án đến khi giải quyết phúc thẩm Tòa án cấp phúc thẩm mới phát hiện ra, liệu rằng chúng có được coi là mới không? Ba là, thế nào là chứng cứ mới quan trọng? Thiết nghĩ để hiểu chính xác, đầy đủ nhất tất cả các băn khoăn trên là cần có sự hướng dẫn, giải thích chính danh từ các nhà làm vào mặt lý luận và thực tiễn xét xử vụ án hành chính, tác giả cho rằng chứng cứ được coi là mới khi nó làm thay đổi nội dung, bản chất vụ án, ảnh hưởng đến quyền, nghĩa vụ của đương sự và thỏa mãn hai điều kiện sau đây 1/ Chứng cứ được Tòa án cấp phúc thẩm mới phát hiện ra đã tồn tại ngay từ đầu khi thụ lý xét xử sơ thẩm nhưng do Tòa án cấp sơ thẩm và đương sự không biết đến sự tồn tại của chúng hoặc chúng chưa xuất hiện. Việc không biết các chứng cứ này có thể là do nguyên nhân khách quan làm cho cả Tòa án sơ thẩm và đương sự không biết song cũng có thể do một số người tham gia tố tụng biết nhưng cố ý che dấu không cung cấp làm cho Tòa án sơ thẩm không thể biết được. Ngược lại cũng có thể do một hoặc một số hoặc tất cả những người tiến hành tố tụng biết mà che dấu, bỏ qua không xem xét chúng, làm chúng không được tồn tại trong hồ sơ vụ án[5].2/ Về mặt thời gian, các chứng cứ được xem là mới làm thay đổi nội dung vụ án khi chúng được Tòa án cấp phúc thẩm xét xử phúc thẩm phát hiện ra sự tồn tại và sự quan trọng của chứng cứ đó nhằm giải quyết triệt để vụ án. Việc Tòa án phát hiện ra có tồn tại chứng cứ mới có thể do quá trình Tòa án nghiên cứu hồ sơ vụ án, xem xét và phát hiện ra sai lầm của Tòa án cấp sơ thẩm không đánh giá các chứng cứ đó hoặc cũng có thể là do người kháng cáo, Viện kiểm sát kháng nghị, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến kháng cáo, kháng nghị, người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của đương sự phát hiện sự tồn tại các chứng cứ mới nhưng các chứng cứ này Tòa án không thể bổ sung, thu thập ngay tại phiên tòa được. Từ các lập luận trên chúng ta thấy để giải thích chứng cứ mới quan trọng thì phải căn cứ vào hai tiêu chí nguyên nhân chúng tồn tại, xuất hiện và thời điểm chúng xuất hiện đã làm thay đổi nội dung vụ án và khi Tòa án phát hiện ra chúng mà không thể bổ sung ngay được thì Hội đồng xét xử phúc thẩm sẽ ra quyết định hủy bản án sơ thẩm và yêu cầu Tòa án cấp sơ thẩm xét xử sơ thẩm luậnQua các phân tích, bình luận trên cho thấy, LTTHC hiện hành quy định căn cứ để Hội đồng xét xử phúc thẩm “huỷ bản án sơ thẩm chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại” tại khoản 3 Điều 241 chưa được toàn diện, thiếu tính rõ ràng, cụ thể làm cho việc áp dụng pháp luật thiếu thống nhất, còn lúng túng của các Tòa phúc thẩm. Do đó, việc hoàn thiện sớm các bất cập này là rất cần thiết. Theo đó, tác giả đã mạnh dạn đưa ra các kiến nghị hoàn thiện các hạn chế đó nhằm bảo đảm cho việc áp dụng các phán quyết phúc thẩm được chính xác, thống Tạp chí Tòa án[1] Nguyễn Thị Thu Hà, quyền hạn của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án dân sự theo quy định của bộ Luật tố tụng dân sự, Tạp chí Nhà nước và pháp luật số 9/2010, tr 52[2] Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên2017, “Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, Đổng Nữ Hoàng Hương 2017, Thẩm quyền của Hội đồng xét xử phúc thẩm vụ án hành chính, Khóa luận tốt nghiệp cử nhân luật, Đại học Luật Tp Hồ Chí Minh, Tr 15[4] Điều 80 Luật TTHC năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2019[5] Nguyễn Cảnh Hợp chủ biên2017, “Giải thích và bình luận Luật Tố tụng hành chính năm 2015”, Nxb Hồng Đức- Hội Luật gia Việt Nam, là nội dung tóm tắt, thông báo văn bản mới dành cho khách hàng của THƯ VIỆN PHÁP LUẬT. Nếu quý khách còn vướng mắc vui lòng gửi về Email info
Kính thưa quý vị, tiếp theo chuỗi bản án về hủy quyết định hành chính, chúng tôi xin giới thiệu tóm tắt nội dung Bản án số 01/2020/HC-PT ngày 29/4/2020 của Tòa án nhân dân tỉnh B về việc khiếu kiện quyết định xử phạt vi phạm hành chính. Tòa án cấp Phúc thẩm đã hủy Bản án Hành chính Sơ thẩm do vi phạm thủ tục tố tụng.HỦY BẢN ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM DO VI PHẠM THỦ TỤC TỐ TỤNG Nội dung sự việc như sau Tối ngày 12/3/2019, anh Nguyễn Giang T bảo con học bài nhưng cháu không nghe và cãi lại anh; do bực tức nên anh có lấy cái roi nhỏ bằng tre đánh cháu 02 cái ở tay. Bà ngoại cháu đã làm đơn tố cáo anh đến Công an phường L Ngày 18/3/2019, Trưởng Công an phường L đã ra Quyết định số 02/QĐ-XPHC Quyết định 02 về việc xử phạt hành chính anh T với số tiền là đồng Ngày 21/3/2019, anh đã đóng tiền phạt số tiền nói trên và sau đó, anh không nhận được bất kỳ quyết định nào khác của Công an phường L. Trong quá trình giải quyết vụ án, anh T biết được là vào ngày 09/4/2019, Trưởng Công an phường L đã ban hành Quyết định số 01/QĐ-HBXPVPHC viết tắt là QĐ 01 về việc hủy bỏ QĐ 02 vì quyết định nói trên vi phạm pháp luật về thẩm quyền, thủ tục ban hành và ban hành Quyết định số 07/QĐ-XPHC ngày 09/4/2019 viết tắt là QĐ 07 về việc xử phạt vi phạm hành chính đối với anh T với số tiền là đồng Anh T đã khởi kiện yêu cầu hủy quyết định xử phạt 02, Tòa án nhân dân thành phố Q đã Bác yêu cầu khởi kiện của anh T. Tòa án nhân dân tỉnh B đã hủy bản án dân sự dân sự sơ thẩm với nhận định Trong quá trình giải quyết vụ án, do có phát sinh QĐ 01 và QĐ 07, Tòa cấp sơ thẩm đã thông báo cho anh T biết nội dung 02 quyết định nói trên và anh T đã chốt lại yêu cầu khởi kiện của mình là hủy QĐ 02, QĐ 07. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không ra thông báo thụ lý bổ sung đối với yêu cầu hủy QĐ 07 là vi phạm quy định tại các Điều 125, 126 Luật tố tụng hành chính; bởi lẽ QĐ 07 là quyết định mới, có nội dung xử phạt giống QĐ 02 nhưng khác về tên người ký ban hành quyết định và số tiền xử phạt QĐ 02 xử phạt hành chính anh Thanh với số tiền là đồng, trong khi đó QĐ 07 lại xử phạt hành chính anh Thanh với số tiền là đồng. Một trong các căn cứ để Trưởng Công an phường L ban hành QĐ 02 và QĐ 07 là Biên bản vi phạm hành chính số 06/BB-VPHC ngày 13/3/2019 viết tắt là Biên bản số 06 do Công an phường L lập. Căn cứ quy định tại Điều 58 Luật xử lý vi phạm hành chính và Điều 6 Nghị định số 81/2013/NĐ-CP quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành luật xử lý vi phạm hành chính thì Công an phường L có thẩm quyền lập Biên bản số 06. Do đó, trong trường hợp này, phải đưa Công an phường L vào tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và cần phải lấy lời khai của người lập biên bản, bà M và cháu Q để xem xét tính hợp pháp về trình tự, thủ tục lập biên bản số 06 do Công an phường L thực hiện vào ngày Tòa án cấp sơ thẩm đã bỏ sót người tham gia tố tụng là vi phạm quy định tại khoản 10 Điều 3 và Điều 53 của Luật tố tụng hành chính. QĐ 02 đã bị QĐ 01 hủy bỏ và Trưởng Công an phường L đã ban hành QĐ 07 thay thế cho QĐ 02. Mặc dù trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, Thẩm phán đã giải thích cho anh T biết nội dung các quyết định nói trên nhưng anh Thanh vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện của mình là hủy QĐ 02 và QĐ 07. Căn cứ Công văn số 64/TANDTC-PC ngày 03/4/2019 của Tòa án nhân dân tối cao có hướng dẫn “Trường hợp tại phiên tòa sơ thẩm, người bị kiện xuất trình quyết định hành chính mới sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ quyết định bị khởi kiện mà người khởi kiện đồng ý rút đơn khởi kiện thì Tòa án ra quyết định đình chỉ giải quyết vụ án. Nếu người khởi kiện không rút đơn khởi kiện thì Tòa án phải tiếp tục xem xét tính hợp pháp của quyết định hành chính bị khởi kiện và quyết định hành chính mới”; trong trường hợp này, lẽ ra Tòa án cấp sơ thẩm phải thụ lý bổ sung và xem xét tính hợp pháp của QĐ 01 có nội dung hủy bỏ QĐ 02 và QĐ 07 có nội dung thay thế QĐ 02. Tuy nhiên, Tòa án cấp sơ thẩm không thụ lý bổ sung, không xem xét tính hợp pháp của QĐ 01, QĐ 07 và số tiền xử phạt hành chính anh Thanh chênh lệch theo QĐ 07 là vi phạm Luật tố tụng hành chính và dẫn đến việc giải quyết vụ án không triệt để. Từ những căn cứ nói trên, Tòa án cấp sơ thẩm đã vi phạm nghiêm trọng về thủ tục tố tụng và phải thu thập chứng cứ mới; căn cứ khoản 3 Điều 241 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm hủy bản án sơ thẩm và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại. Thông tin chúng tôi cung cấp HỦY BẢN ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM DO VI PHẠM THỦ TỤC TỐ TỤNG nhằm gúp cá nhân, tổ chức tham khảo và không áp dụng tùy tiện. Trường hợp trong nội dung HỦY BẢN ÁN HÀNH CHÍNH SƠ THẨM DO VI PHẠM THỦ TỤC TỐ TỤNG có điều gì gây nhầm lẫn, chưa rõ ràng hoặc có sự vướng ngại, thắc mắc, chúng tôi rất mong nhận được ý kiến phản hồi của quý vị. Hy vọng sẽ cung cấp được những thông tin hữu ích tới quý vị. Chuyên viên Hoài Linh Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi qua thông tin sau CÔNG TY LUẬT TNHH CỘNG ĐỒNG VẠN TÍN Luật sư PHẠM THỊ NHÀN ĐT 0909257165 + Website chuyên đất đai + Website chuyên ly hôn + youtube +Fanpage
1. Thủ tục tố tụng hành Khởi kiện và thụ lý vụ án hành Chuẩn bị xét Xét xử sơ Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc lại bản án, Quyết định đã có hiệu lực của pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái Thi hành bản án, quyết định của Tòa án2. Thẩm quyền của Tòa án trong Tố tụng hành Thẩm quyền theo vụ Thẩm quyền theo cấp Tòa Thẩm quyền theo lãnh thổBên cạnh ngành luật tố tụng hình sự, tố tụng dân sự thì tố tụng hành chính được ít người biết hơn vì nó có tuổi đời nhỏ hơn so với hai ngành luật còn lại. Mỗi ngành luật điều chỉnh những mối quan hệ xã hội riêng góp phần bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ thể trong mối quan hệ tố tụng hành chính. Vậy thủ tục tố tụng hành chính được diễn ra như thế nào? Cùng chúng tôi theo dõi bài viết dưới đây để biết rõ Thủ tục tố tụng hành chínhCăn cứ vào các quy định của pháp luật hiện hành, căn cứ pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính. Tố tụng hành chính được phân thành các giai đoạn chính sau Khởi kiện và thụ lý vụ án hành chínhMột khi cá nhân, cơ quan nhà nước hay bất kỳ tổ chức nào khác thấy rằng quyết định hành chính, hành vi hành chính xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì có thể khởi kiện vụ án hành chính để yêu cầu Tòa án hành chính giải khi khởi kiện thì cá nhân, cơ quan nhà nước hoặc tổ chức khác phải tiến hành khiếu nại với cơ quan hành chính mà họ cho rằng quyết định, hành vi hành chính của cơ quan đó là trái pháp luật. Trường hợp không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại đó thì có thể khiếu nại lên cơ quan, người cấp trên trực tiếp hoặc khởi kiện vụ án hành khi Tòa án tiếp nhận đơn khởi kiện, nếu không thuộc những trường hợp trả lại đơn thì Tòa án phải thụ lý vụ quyền giải quyết vụ án hành Chuẩn bị xét xửGiai đoạn này, Toà án hành chính thực hiện các công việc chuẩn bị nhưYêu cầu các bên cung cấp thông tin, tài liệu,….Khi xét thấy cần thiết Toà có thể thu thập chứng cứ, xem xét tại chỗ, trưng cầu giám định;Sau khi nhận thấy việc thu thập chứng cứ đã đầy đủ, Toà hành chính phải xem xét và đưa ra một trong các quyết định Đưa vụ án ra xét xử, tạm đình chỉ vụ án; đình chỉ giải quyết vụ Xét xử sơ thẩmHội đồng xét xử vụ án hành chính bao gồm một thẩm phán và hai hội thẩm nhân Tòa sơ thẩm được tiến hành khi có mặt đầy đủ đương sự, người đại diện hợp pháp của quyết định của Hội đồng xét xử phải do các thành viên của hội đồng thảo luận và quyết định theo đa Xét lại bản án và quyết định chưa có hiệu lực pháp luật theo thủ tục phúc thẩmNhằm bảo vệ quyền lợi của các đương sự, pháp luật tố tụng hành chính cũng như các ngành luật tố tụng khác có quy định về quyền được kháng chỉ có các đương sự mà Viện kiểm sát cũng có quyền kiến nghị yêu cầu Tòa án cấp trên xem xét lại bản án được xét xử theo thủ tục sơ thẩm. Giai đoạn này có nhiệm vụ sửa chữa những sai lầm và vi phạm của toà án cấp sơ thẩm, bảo đảm việc áp dụng pháp luật đúng đắn và thống chất của việc xét lại bản án và quyết định theo thủ tục phúc thẩm là việc toà án cấp trên trực tiếp xét lại những bản án sơ thẩm và quyết định sơ thẩm chưa có hiệu lực pháp luật bị kháng cáo hay kháng nghị. Bản án và quyết định của toà án cấp phúc thẩm có hiệu lực ngay sau khi tuyên đồng xét xử phúc thẩm có ba thẩm phán và nhiệm vụ quyền hạn tương tự như phiên tòa sơ lại bản án, Quyết định đã có hiệu lực của pháp luật theo trình tự giám đốc thẩm hoặc tái thẩmViệc kháng nghị giám đốc thẩm của Viện kiểm sát được thực hiện yêu cầu khi có đủ các căn cứ theo quy định của pháp thẩm là xét lại bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật nhưng bị kháng nghị vì có những tình tiết mới được phát hiện có thể làm thay đổi cơ bản nội dung của bản án, quyết định mà Tòa án, đương sự không biết được khi Tòa án ra bản án, quyết định chủ thể có quyền kháng nghị giám đốc thẩm và tái thẩm cần chú ý thời hạn được quyền kháng nghị theo quy định của pháp Thi hành bản án, quyết định của Tòa ánCơ quan Nhà nước, tổ chức, cá nhân có liên quan có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Toà người không thi hành bản án hành chính hoặc cố tình không chấp hành bản án, quyết định của Toà án về vụ án hành chính thì tuỳ theo tính chất, mức độ vi phạm có thể bị xử lí kỉ luật hoặc bị truy cứu trách nhiệm hình kiện vụ án hành Thẩm quyền của Tòa án trong Tố tụng hành chínhĐể xác định thẩm quyền giải quyết vụ án hành chính cần xem xét ba yếu tố như sau Thẩm quyền theo vụ việc, thẩm quyền theo cấp và thẩm quyền theo lãnh Thẩm quyền theo vụ việcQuy định tại Điều 30 Luật Tố tụng hành chính 2015 có quy định thẩm quyền giải quyết các kiếu kiện của Tòa án như sau“1. Khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính, trừ các quyết định, hành vi sau đâya Quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao theo quy định của pháp luật;b Quyết định, hành vi của Tòa án trong việc áp dụng biện pháp xử lý hành chính, xử lý hành vi cản trở hoạt động tố tụng;c Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh, quyết định giải quyết khiếu nại trong hoạt động kiểm toán nhà Khiếu kiện danh sách cử tri.” Thẩm quyền theo cấp Tòa ánThẩm quyền xét xử theo cấp Tòa án cho chúng ta biết Tòa án nào được quyền tiếp nhận xét xử sơ thẩm khiếu kiện hành chính. Hiện nay chúng ta biết thẩm quyền xét xử sơ thẩm thuộc về Tòa án nhân dân cấp tỉnh và Tòa án nhân dân cấp huyện theo như Luật Tổ chức Tòa án nhân biết được cụ thể Tòa án nhân dân cấp tỉnh nào, Tòa án nhân dân cấp huyện nào được phép xét xử khiếu kiện hành chính chúng ta cần xem xét tới thẩm quyền giải quyết theo lãnh Thẩm quyền theo lãnh thổHai loại thẩm quyền theo lãnh thổ và theo cấp Tòa án không thể tách rời nhau trong việc xác định thẩm quyền giải quyết khiếu kiện hành chính. Theo đóTòa án nhân dân cấp huyện có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện hành chính được quy định tại Điều 31 Luật Tố tụng hành chính 2015;Tòa án nhân dân cấp tỉnh có thẩm quyền giải quyết những khiếu kiện hành chính được quy định tại Điều 31 Luật Tố tụng hành chính muốn hiểu rõ hơn về Thủ tục tố tụng hành chính năm 2022 trong từng trường hợp cụ thể, đừng ngần ngại trao đổi trực tiếp với Luật Sư Tố Tụng
bản án tố tụng hành chính